TIN TỨC

Vai trò của chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-13 21:30:04
mail facebook google pos stwis
500 lượt xem

Suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam, địa danh Phố Hiến vừa thân thương vừa thân thuộc trong trí nhớ mọi người. Phố Hiến từng là một thương cảng lớn sầm uất và quan trọng bậc nhất của xứ Đàng ngoài (miền Bắc Việt Nam).

Đại tá - nhà văn Phùng Văn Khai

Phố Hiến rất quan trọng với các thương đoàn từ khắp nơi trong khu vực và thế giới tới giao thương với Việt Nam. Một thương cảng lừng danh khác là Hội An, theo các nhà nghiên cứu cũng ra đời sau Phố Hiến. Trong hệ thống các đô thị cổ Việt Nam, Phố Hiến luôn đứng ở top đầu, đối sánh và bổ sung, nâng tầm cho Thăng Long - Kẻ Chợ. Trong các bộ sử sách của Việt Nam và về Việt Nam, các học giả trong và ngoài nước đều đánh giá cao Phố Hiến. Có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học đến từ Trung Quốc, Hà Lan, Nhật Bản, Anh, Pháp, Mỹ, Australia... viết về Phố Hiến đã tạo những dấu ấn sâu sắc mang tầm vóc quốc tế. Giới nghiên cứu văn hoá lịch sử trong nước cũng ghi nhận nhiều tên tuổi lớn với những công trình nghiên cứu toàn diện về Phố Hiến. Đây cũng là một niềm tự hào lớn của người Hưng Yên. Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu thống kê và đặt ra một số vấn đề trong việc khẳng định trên tinh thần khoa học lịch sử về công lao của các chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến với một giai đoạn lịch sử sôi động, phức tạp, còn nhiều góc khuất nhưng cũng là một giai đoạn lịch sử không thể tách rời trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả Phố Hiến: “Nơi đây phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp” đã cho thấy đặc trưng lớn nhất của Phố Hiến chính là trung tâm cảng thị lớn, ra đời từ động lực phát triển kinh tế trong nước và mang đậm chức năng của một trung tâm kinh tế lớn của đất nước. Phố Hiến còn đảm đương vai trò thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại của đất nước. Nơi đây được đặt cơ quan công quyền, thay mặt triều đình đảm đương trách nhiệm như một tiềm đồn, một vòng thành bảo vệ, che chắn cho kinh đô Thăng Long. Có thể thấy rằng, vị trí, chức năng, vai trò của Phố Hiến bao trùm nhiều lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế xã hội, bởi vậy dân chúng nhiều đời luôn truyền tụng câu ca:“Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học về Phố Hiến. Có nhiều chương trình nghiên cứu, phân tích, lịch đại, đồng đại, so sánh, đối chiếu, đặt vấn đề nghiên cứu Phố Hiến trong tiến trình lịch sử bằng các phương pháp khoa học, sử học kết hợp với khả cứu các thư tịch, tài liệu, văn bia, sắc phong... để soi tỏ trầm tích lịch sử đến hiện đại của Phố Hiến.

Trong các đấu mốc lịch sử về Phố Hiến, vai trò của các chúa Trịnh là rất quan trọng. Mặc dù vấn đề nội chiến, loạn lạc trong thời Lê - Trịnh khiến triều đình luôn gặp khó khăn về quốc khố trong việc phục vụ chiến tranh, song các chúa Trịnh luôn tỏ ra rất sáng suốt trong việc khuyến khích các thương nhân phát triển kinh tế để đóng góp vào nền kinh tế quốc gia. Chúa Trịnh Doanh từng nhận định: “Ngày nay tài lực của nhân dân thiếu hẳn đi, chỉ còn trông chờ vào bọn phú thương chuyên chở lưu thông từ chỗ có đến chỗ không thì mới tạm đủ.”

Vai trò của các Chúa Trịnh đã khuyến khích toàn diện sự phát triển của Phố Hiến nhất là với giới thương nhân. Triều đình liên tiếp khen thưởng cho các thương nhân có công trong việc luân chuyển và mua bán các loại hàng hoá ích nước lợi dân. Giai đoạn này, triều đình Lê - Trịnh đã bắt đầu đẩy mạnh giao thương với phương Tây, sử dụng các mặt hàng từ các làng nghề trong nước đổi lấy vũ khí và tiền bổ sung quốc khố. Các Chúa Trịnh rất coi trọng quan hệ với Nhật Bản, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho thương thuyền Nhật Bản thông qua cảng thị Phố Hiến. Trong bức thư chúa Trịnh Tráng gửi cho triều đình Nhật Bản có đoạn: “Đại nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương nước An Nam đã xây dựng lại đất nước, khôi phục trung ương, xa thư quy về một mối, lân bang giao hiếu hoà hợp, rộng ban ân trạch, tạo thành nghĩa lớn. Nay nhân vào tiết hạ, thấy các thuyền trưởng của quý quốc Nhật Bản là Giác Tàng (Suminokura) và Mạt Cát (Sueyoshi), tổng cộng 20 chiếc đến nước chúng tôi buôn bán. Chúng tôi muốn phát triển, không dừng lại ở việc buôn bán nhỏ nên thăm hỏi kĩ càng. Nghe nói quốc chủ Nhật Bản vào lúc tuổi xuân đang độ, đức tính khoan hoà, tôi muốn kết là nước anh em. Về đạo nghĩa nhân ái thì trước tiên lấy chính nghĩa làm mối giao kết ban đầu”.

Lời văn trong thư của chúa Trịnh Tráng đã cho thấy quan điểm của triều đình Lê - Trịnh là luôn muốn mở rộng bang giao với các nước bên ngoài. Đây chính là  điểm tiến bộ của triều đình Lê - Trịnh trong bối cảnh đất nước nội chiến liên miên.

Vấn đề nội thương của Phố Hiến cũng hết sức phát triển trong thời Lê - Trịnh. Các loại hàng hoá sản xuất trong nước hầu như đều có mặt ở các bến sông, bãi chợ Phố Hiến. Với vị trí địa lý đặc biệt của mình, từ thời Trần, bến chợ Xích Đằng đã có sự thông thương buôn bán với Đàng trong theo đường biển vào các vùng đất Hoan Châu (xứ Nghệ ngày nay). Từ việc giao thương buôn bán ấy, nhiều thương nhân đã đến định cư, xây dựng dịch quán, kho xưởng ở Phố Hiến. Chính đây là cầu nối quan trọng nhất để các loại hàng hoá qua lại, giao thương tới kinh thành Thăng Long. Hàng hoá từ các làng nghề trên cả nước được trao đổi, buôn bán tại 2 trung tâm lớn là Phố Hiến và Thăng Long đã cho thấy tình chất đặc biệt của Phố Hiến, nhất là vai trò cảng thị - giao thương đường thuỷ. Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Xích Đằng có bốn bến đò: đò Kệ Châu, đò Quan Xuyên, đò Nhân Dục và đò Phương Trà... giáp bờ sông Nhị còn có chợ Xích Đằng. Sau khi Phố Hiến mở rộng về phía Đông, Đông Bắc và lỵ sở của huyện Kim Động chuyển về Đằng Châu thì chợ Nhân Dục ở đây trở thành chợ lớn trong tỉnh”.

Vấn đề các phường hội ở Phố Hiến với những đặc trưng của nó càng cho thấy sự liên hệ mật thiết trong giao thương và sự phân phối giữa hàng hoá xuất khẩu và hàng hoá tiêu thụ nội địa chính là sự điều tiết cần thiết vào mạch máu kinh tế toàn quốc. Phố Hiến đã sớm hình thành các khu phố mang tính chất hội nhóm như: Khu phố Bắc Hoà do các thương nhân người Hoa lập nên. Khu phố Nam Hoà do các nhóm thợ gốm, thợ mộc từ phía Nam sông Hồng xây dựng các xưởng nghề thủ công sản xuất các mặt hàng tại chỗ cung cấp cho các khu vực thương nhân dấu tích vẫn còn đến hôm nay. Giới khảo cổ đã tìm thấy nhiều bằng chứng về các lò gốm, lò rèn, xưởng mộc tại khu vực quanh Văn Miếu Xích Đằng và chùa Nễ Châu.

Sự phát triển giao thương của Phố Hiến đã khuyến khích, kích cầu các làng nghề lân cận phát triển theo. Nhiều sản phẩm thủ công nổi tiếng từ các làng nghề đã góp vào sự phong phú, hình thành bộ mặt thương nghiệp Phố Hiến. Đó là làng đan thuyền Nội Lễ (Tiên Lữ); làng thuốc Nghĩa Trai (Văn Lâm); làng dệt Phong Cốc, Hương Quất, Mậu Duyệt, Triều Dương... góp phần tạo sự liên thông các mặt hàng hoá sử dụng cho thị trường nội địa và xuất khẩu.

Quan hệ buôn bán giao thương giữa Phố Hiến và các cảng thị trong nước sớm hình thành và ngày càng phát triển. Địa danh Phố Hiến được rất nhiều nơi trong nước và ngoài nước biết đến. Các sách vở biên chép trong nhiều thế kỷ đều nhận định vai trò quan trọng của Phố Hiến. Các thương nhân nước ngoài như Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc..., thu mua hàng hoá, nhất là các mặt hàng thủ công, gốm sứ đi bán ở khắp nơi thu lợi nhuận rất cao đã tạo sức hút lớn và sự phát triển của các làng nghề. Với đầu óc và bản chất của mình, các thương khách Trung Quốc đã mau chóng khai thác mọi lợi thế từ Phố Hiến. Thương nhân các nước khác cũng mau chóng tìm các lợi thế để kinh doanh buôn bán ở Phố Hiến. Nhiều thương điếm được thành lập như: Thương điếm Nhật (1604); thương điếm Hà Lan (1637); thương điếm Anh (1672); thương điếm Pháp (1680)...đã càng tạo ra bộ mặt phồn thịnh và sức hút lớn, vai trò quan trọng của Phố Hiến trong nền kinh tế chính trị các nước.

Từ những thống kê trong suốt chiều dài khởi thủy và phát triển của thương cảng Phố Hiến, đều thấy rất rõ vai trò của các chúa Trịnh mang tính quyết định. Đây là một điều đặc biệt cần được nghiên cứu trên tinh thần khoa học lịch sử, nhất là tính đến ngày nay, việc khẳng định những đóng góp toàn diện của các chúa Trịnh trong thời đại Lê - Trịnh vẫn còn nhiều hạn chế, phiến diện, thiếu công bằng đối với các chúa Trịnh.

Tại sao các đời chúa Trịnh đều rất quan tâm đến thương cảng Phố Hiến? Một câu hỏi tưởng dễ trả lời song chúng ta thường đã trả lời một cách xơ cứng, máy móc mà không đi vào chiều sâu của địa chính trị, các vấn đề về quân sự quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước thời kỳ đó. Một câu hỏi khác là tại sao, trong bối cảnh nhà Mạc tiếm quyền, đối đầu với vua Lê chúa Trịnh trên nửa thế kỷ; các chúa Nguyễn rời bỏ và dần dần đối đầu với vua Lê chúa Trịnh hàng trăm năm mà các chúa Trịnh ngoài việc phải tổ chức các hoạt động quân sự triền miên, vẫn luôn dành tâm huyết và tài lực để ổn định, phát triển mạnh mẽ các hoạt động của thương cảng Phố Hiến? Tại sao, triều đình Lê - Trịnh luôn ở thế lưỡng đầu chế trong củng cố quyền lực trung ương và các địa phương, các chúa Trịnh vẫn rất chú trọng tới giao thương với các nước lân bang, khu vực Châu Á và Châu Âu với những chính sách linh hoạt, đặc thù đã tạo ra quốc lực cho đất nước và cải thiện đời sống sung túc cho nhân dân? Những câu hỏi đó chúng ta phải có trách nhiệm trả lời một cách nghiêm túc, công bằng nhất.

Khi tiếp cận bộ sách Bài sử khác cho Việt Nam của nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường, chúng tôi đã phát hiện ra nhiều tư liệu mới, cách nhìn mới trên tinh thần khoa học lịch sử. Từ những điểm nhìn xa hơn, khách quan hơn, thậm chí là khác hơn, đã thực tế kéo gần hơn việc định vị, đánh giá công trạng và hành trạng, thành tựu, thậm chí là những khiếm khuyết hạn chế của vua Lê chúa Trịnh, từ đó có câu trả lời một cách thấu đáo hơn với những câu hỏi trên. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt giữa nhà Mạc ở phía Bắc, các chúa Nguyễn ở phía Nam và vua Lê chúa Trịnh giữ vai trò trung ương ở giữa. Nhà Mạc và các chúa Nguyễn một mặt là các đối thủ chính trị hùng mạnh một mặt vẫn luôn bị coi là “giặc cỏ”, “ngụy triều”, “loạn đảng”… nhưng trên thực tế các thế lực này đều xác lập danh vị riêng, thiết lập bộ máy triều chính từ trung ương đến địa phương không khác gì vua Lê chúa Trịnh. Nhà Mạc thậm chí còn liên tiếp mở các khoa thi với thành tựu ghi nhận có giá trị đến ngày nay. Các chúa Nguyễn tổ chức bộ máy chính quyền mạnh mẽ, chặt chẽ, hiệu quả, tiền đề cho công cuộc mở rộng cương vực lãnh thổ về phía Nam đã đi vào sử sách. Với thực tiễn đó, các chúa Trịnh nếu không mau chóng nắm bắt những xu hướng lớn của thời đại, không dẫn dắt bách tính thị tộc thực hiện những công cuộc đổi mới mạnh mẽ kể cả về sĩ, nông, công, thương trên các vùng đất cai quản của mình và đương nhiên thương cảng Phố Hiến là một vị trí quan trọng hàng đầu để các chúa Trịnh khẳng định quyền thế của mình với thiên hạ.

Các chúa Trịnh khởi phát ở vùng đất Thanh Hóa. Đất Thanh Hóa, từ xưa đến nay vẫn luôn như một quốc gia thu nhỏ. Khi phải cạnh tranh với nhà Mạc ở phía Bắc và các chúa Nguyễn ở phía Nam, yếu tố thương cảng Phố Hiến càng đặc biệt quan trọng, nhất là vấn đề hậu cần kỹ thuật, mua sắm vũ khí, vận chuyển lương thảo, nhất là tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật với phương Tây đã trở thành vấn đề then chốt trong khẳng định quyền lực của các chúa Trịnh. Phố Hiến không chỉ có một vị trí địa lý cảng biển - đồng bằng - thành thị mà còn có yếu tố là một biên cảng ngoại giao với các nước trong khu vực và phương Tây - một sự khẳng định sức mạnh văn minh trước các đối thủ chính trị là nhà Mạc và các chúa Nguyễn nên càng trở lên đặc biệt quan trọng. Bởi vậy, vai trò của các chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến phải được xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, trên tinh thần khoa học lịch sử mới có thể đưa ra không chỉ câu trả lời đúng đắn mà còn là sự khẳng định những đóng góp lớn lao của các chúa Trịnh, triều đại Lê - Trịnh trong tiến trình lịch sử.

Có thể khẳng định, trong suốt quá trình hình thành và phát triển của Phố Hiến, ở nhiều giai đoạn khác nhau đều có vai trò rất quan trọng với đời sống toàn diện của đất nước, nhất là vai trò của các chúa Trịnh trong tiến trình đó mà những trầm tích của nó vẫn còn nhiều giá trị tới hôm nay. Từ nền tảng ấy, với những đóng góp toàn diện của các Chúa Trịnh trong khoảng thời gian 249 năm giúp vua Lê điều hành triều chính, ổn định quốc gia, phát triển toàn diện đất nước, chúng ta rất cần sự ghi nhận trên tình thần khoa học lịch sử, trước mắt cần tổ chức một Hội thảo khoa học lịch sử về các danh nhân, danh thần, danh tướng họ Trịnh có công với nước để từ đó đề xuất thực hiện đặt tên phố, tên đường, tên trường; thực hiện các công trình tượng ngoài trời, phù điêu, tác phẩm nghệ thuật về những đóng góp tiêu biểu, đặc sắc của các Chúa Trịnh với đất nước.

Đối với thương cảng Phố Hiến, từ những nguồn tư liệu lịch sử đáng tin cậy, từ nguyện vọng của các nhà khoa học lịch sử, nhà nghiên cứu và sự tri ân của nhân dân với công trạng của các Chúa Trịnh, chúng ta cần tổ chức một số cuộc đi điền dã, tiếp cận tư liệu trong nước và ngoài nước một cách khách quan, khoa học, toàn diện, có chiều sâu, đặt trong bối cảnh chính trị đương thời và thời đại mới hôm nay để tiến hành cuộc Hội thảo về họ Trịnh trong tiến trình lịch sử. Điều đó không chỉ cần thiết với đời sống học thuật mà còn là nền tảng để chúng ta có những bước đi tiếp theo, có những đóng góp về văn hóa lịch sử từ những con người cụ thể, những triều đại có công trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Chúng tôi sẽ còn trở lại với những đóng góp, vị thế và sự tác động lớn lao với lịch sử của các chúa Trịnh trong những bài viết tiếp theo.

 

Đại tá - Nhà văn Phùng Văn Khai

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm