TIN TỨC

Dưới gầm trời lưu lạc – Bản ngã nhà báo trong vỏ bọc nhà văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-18 11:53:40
mail facebook google pos stwis
692 lượt xem

“Dưới gầm trời lưu lạc” không chỉ là tựa đề một tập sách bút ký xuất sắc của nhà báo Đỗ Doãn Hoàng, mà còn là một hành trình tinh thần đầy trăn trở giữa lằn ranh của báo chí và văn chương. Với bài viết sâu sắc dưới đây, cây bút trẻ Ngô Xuân Vy đã phân tích tinh tế sự hòa quyện hiếm hoi giữa cái nhìn thời sự và chiều sâu nhân văn – một bản ngã báo chí được thức tỉnh trong vỏ bọc lặng thầm của một nhà văn. Một bài viết lay động và gợi suy tư, đặc biệt đối với những ai đang sống với nghiệp chữ nghĩa và sự thật”
 

NGÔ XUÂN VY

Chọn ngẫm cùng Dưới gầm trời lưu lạc của nhà báo Đỗ Doãn Hoàng là chấp nhận một cuộc đồng hành đặc biệt: cuộc lữ hành giữa sự thật khốc liệt của đời sống và vẻ đẹp đầy ám ảnh của văn chương. Không đơn thuần là một tập bút ký, cũng không chỉ là những ghi chép báo chí kiểu truyền thống. Nó là sự kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp, thấu hiểu với nỗi đau và cứng cỏi trong hành trình đi đến tận cùng sự thật.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng - một cây bút sắc sảo, giàu bản lĩnh trong làng báo chí điều tra, nay lại hiện diện với một giọng điệu khác: đằm sâu, man mác buồn, nhiều chất suy tư, hơn là phơi bày. Anh không từ bỏ nghề báo, mà đưa báo chí lên một nấc thang khác, nơi chữ nghĩa vừa mang tính thời sự, vừa mang tính nhân sinh. Và chính ở nơi ấy, người đọc bắt gặp một Đỗ Doãn Hoàng, một nhà báo viết văn, trong hình hài đầy mâu thuẫn mà quyến rũ.

1. Khi văn chương là đường dẫn ngầm vào lòng sự thật

 Dưới gầm trời lưu lạc gợi mở một không gian gập ghềnh, bất định. Gầm trời: một cách nói ngược đầy thi vị, như thể tác giả đang bước đi trong bóng tối của hiện thực, nhưng đôi mắt luôn ngước tìm vòm trời cao. Lưu lạc: không phải là sự lạc lối, mà là hành trình không ngừng nghỉ của một kẻ đi tìm con người, đi tìm chân lý trong những xó xỉnh bị lãng quên.

Và quả thật, từ những trang đầu tiên, chúng ta nhận ra đây là cuốn sách được viết bằng đôi chân của một nhà báo từng đi, từng chứng kiến, từng chịu va đập, nhưng lại thấm đẫm linh hồn của một nhà văn “Từ bấy, những vườn bướm màu sắc, những bãi biển mê hồn, những kiến trúc thực dân, cả sự tử tế chan hoà và lối sống chậm bên các toà cao ốc của người cù lao Cau luôn khiến tôi nhung nhớ...” Những phận người xuất hiện trong sách: người mẹ gùi con đi qua biên giới, người đàn ông làm nghề bẫy rắn, bé gái đi nhặt than bên bờ suối chết. Tất cả đều là thật, nhưng dưới ngòi bút của tác giả, họ không chỉ là những nhân vật báo chí, họ trở thành biểu tượng của nỗi chịu đựng, của khát vọng sống và vẻ đẹp tiềm tàng nơi tận cùng thống khổ.

Văn chương của Đỗ Doãn Hoàng không tô hồng sự thật, không làm dịu đi nỗi đau, nhưng lại có một cách rất riêng để khiến người đọc phải dừng lại, phải nghĩ ngợi. Anh không giật tít bằng cảm xúc rẻ tiền, mà lay động bằng hình ảnh: một cái nhìn xa xôi, một bàn tay lạnh run, một tiếng thở dài trong đêm rừng. Từng chi tiết nhỏ ấy, được níu kéo để sống dậy từng trang văn. 

2. Nhà báo và sự cô độc trong vai trò người kể chuyện

Làm báo đã là đơn độc. Làm báo mà còn mang trong mình tâm hồn nhà văn - đó là một kiểu cô độc khôn nguôi. Dưới ngầm trời lưu lạc là nơi Đỗ Doãn Hoàng hiện lên như một lữ khách bị lưu đày khỏi thế giới ồn ào, thực dụng. Anh đi xuyên qua những vùng đất “ngoài lề truyền thông”, không phải để săn tin mà để lắng nghe. Anh không quan tâm đến tốc độ đăng tải, mà đau đáu về điều chưa kịp nói.

Không ít lần, Hoàng để người đọc cảm nhận sự trống trải trong chính hành trình của mình. Giữa núi rừng heo hút hay trên chuyến xe đêm đổ về miền biên viễn, nhân vật “tôi” trong sách luôn mang theo sự lặng thầm, ngẫm ngợi. Nhà báo ấy không đơn thuần là người thu thập tư liệu, mà còn là kẻ đối thoại với chính mình: “Tôi đã viết đủ chưa? Tôi có quyền kể về nỗi đau của người khác không?”.

Đó là câu hỏi của một người viết có lương tri – điều đang trở nên hiếm hoi giữa thời đại mà nhà báo dễ bị cuốn vào vòng xoáy của tin nhanh. Và chính vì có lương tri, anh mới dám đau, mới dám chọn cách viết khó hơn, chậm rãi, sâu sắc, thậm chí không “thời sự” nữa, nhưng lại mang tính vĩnh cửu.

3. Sự hòa quyện hiếm hoi giữa chất liệu đời và tinh thần văn học

Dưới ngầm trời lưu lạc có kết cấu như một bản giao hưởng với nhiều cung bậc. Mỗi bài viết là một chương, mỗi nhân vật là một nốt nhạc. Nhưng điểm kỳ lạ là: dù đề tài đa dạng từ người tị nạn, di cư, thân phận người lính cũ, đến những vùng đất hoang sơ, thì toàn bộ cuốn sách vẫn mang một nhịp điệu thống nhất: nhịp của sự cảm thông.

Đỗ Doãn Hoàng không kể chuyện như một nhà báo, anh kể như một người từng sống qua đời sống của nhân vật. Anh viết bằng trải nghiệm, bằng va đập, bằng sự “đắm chìm” chứ không “tác nghiệp”. Ở đó, ngôn ngữ báo chí được chuyển hóa thành ngôn ngữ văn học.

Không nhiều nhà báo có khả năng tạo ra những hình ảnh như thế. Nhưng Hoàng không làm vậy để phô diễn. Anh viết như một bản năng. Và điều ấy làm nên chất riêng: vừa nhòe ranh giới giữa báo chí và văn học, vừa định hình một dòng chảy mới cho thể loại bút ký hiện đại, nơi con chữ vừa mang tin, vừa mang tình.

4. Một tấm gương soi lại nghề viết: Thức tỉnh và tự vấn

Có thể nói, Dưới ngầm trời lưu lạc không chỉ là cuốn sách để đọc, mà còn là để soi. Soi vào những giới hạn của nghề viết hôm nay. Soi vào những câu hỏi muôn thuở: Viết để làm gì? Viết cho ai? Và liệu người viết còn đủ can đảm để đặt nhân phẩm lên trên sự nghiệp?

Bằng chính lối viết nhiều tầng bậc của mình, Hoàng đã đặt ra những tiêu chuẩn ngầm cho người làm báo mang tâm hồn văn sĩ: Không thỏa hiệp với sự dễ dãi. Không đánh mất sự đồng cảm. Và quan trọng nhất: không từ bỏ trách nhiệm kể lại thế giới này bằng đôi mắt nhân văn nhất có thể.

Không phải ai cũng cần viết như Hoàng. Nhưng đọc Hoàng, người làm báo sẽ thấy mình cần sống sâu hơn với nghề. Người đọc sẽ thấy mình cần chậm lại để lắng nghe. Và văn chương trong cái vỏ bọc báo chí, sẽ lại có chỗ đứng như một thứ ánh sáng, soi vào những góc khuất mà ánh đèn thời sự thường bỏ qua, một ngòi bút mang dáng dấp của đôi chân.

Người ta thường ví ngòi bút nhà báo như một thứ vũ khí. Nhưng ở Đỗ Doãn Hoàng, ngòi bút không chiến đấu bằng sự giận dữ, mà bằng sự lặng thầm của một đôi chân không ngừng lưu lạc. Chân đi đến đâu, chữ thấm đến đó. Chân bước vào vùng tối, chữ hóa thành ánh sáng.

Dưới ngầm trời lưu lạc là minh chứng cho một kiểu viết hiếm hoi, nơi nghề báo không là kẻ thợ săn thông tin, mà là người hành hương. Và Đỗ Doãn Hoàng, trong sự hòa quyện giữa nhà báo và nhà văn, đã viết nên một hành trình đầy ám ảnh, đầy cảm xúc, khiến người đọc không thể thờ ơ, khiến người làm báo phải nhìn lại mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm