TIN TỨC

Dưới gầm trời lưu lạc – Bản ngã nhà báo trong vỏ bọc nhà văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-18 11:53:40
mail facebook google pos stwis
548 lượt xem

“Dưới gầm trời lưu lạc” không chỉ là tựa đề một tập sách bút ký xuất sắc của nhà báo Đỗ Doãn Hoàng, mà còn là một hành trình tinh thần đầy trăn trở giữa lằn ranh của báo chí và văn chương. Với bài viết sâu sắc dưới đây, cây bút trẻ Ngô Xuân Vy đã phân tích tinh tế sự hòa quyện hiếm hoi giữa cái nhìn thời sự và chiều sâu nhân văn – một bản ngã báo chí được thức tỉnh trong vỏ bọc lặng thầm của một nhà văn. Một bài viết lay động và gợi suy tư, đặc biệt đối với những ai đang sống với nghiệp chữ nghĩa và sự thật”
 

NGÔ XUÂN VY

Chọn ngẫm cùng Dưới gầm trời lưu lạc của nhà báo Đỗ Doãn Hoàng là chấp nhận một cuộc đồng hành đặc biệt: cuộc lữ hành giữa sự thật khốc liệt của đời sống và vẻ đẹp đầy ám ảnh của văn chương. Không đơn thuần là một tập bút ký, cũng không chỉ là những ghi chép báo chí kiểu truyền thống. Nó là sự kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp, thấu hiểu với nỗi đau và cứng cỏi trong hành trình đi đến tận cùng sự thật.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng - một cây bút sắc sảo, giàu bản lĩnh trong làng báo chí điều tra, nay lại hiện diện với một giọng điệu khác: đằm sâu, man mác buồn, nhiều chất suy tư, hơn là phơi bày. Anh không từ bỏ nghề báo, mà đưa báo chí lên một nấc thang khác, nơi chữ nghĩa vừa mang tính thời sự, vừa mang tính nhân sinh. Và chính ở nơi ấy, người đọc bắt gặp một Đỗ Doãn Hoàng, một nhà báo viết văn, trong hình hài đầy mâu thuẫn mà quyến rũ.

1. Khi văn chương là đường dẫn ngầm vào lòng sự thật

 Dưới gầm trời lưu lạc gợi mở một không gian gập ghềnh, bất định. Gầm trời: một cách nói ngược đầy thi vị, như thể tác giả đang bước đi trong bóng tối của hiện thực, nhưng đôi mắt luôn ngước tìm vòm trời cao. Lưu lạc: không phải là sự lạc lối, mà là hành trình không ngừng nghỉ của một kẻ đi tìm con người, đi tìm chân lý trong những xó xỉnh bị lãng quên.

Và quả thật, từ những trang đầu tiên, chúng ta nhận ra đây là cuốn sách được viết bằng đôi chân của một nhà báo từng đi, từng chứng kiến, từng chịu va đập, nhưng lại thấm đẫm linh hồn của một nhà văn “Từ bấy, những vườn bướm màu sắc, những bãi biển mê hồn, những kiến trúc thực dân, cả sự tử tế chan hoà và lối sống chậm bên các toà cao ốc của người cù lao Cau luôn khiến tôi nhung nhớ...” Những phận người xuất hiện trong sách: người mẹ gùi con đi qua biên giới, người đàn ông làm nghề bẫy rắn, bé gái đi nhặt than bên bờ suối chết. Tất cả đều là thật, nhưng dưới ngòi bút của tác giả, họ không chỉ là những nhân vật báo chí, họ trở thành biểu tượng của nỗi chịu đựng, của khát vọng sống và vẻ đẹp tiềm tàng nơi tận cùng thống khổ.

Văn chương của Đỗ Doãn Hoàng không tô hồng sự thật, không làm dịu đi nỗi đau, nhưng lại có một cách rất riêng để khiến người đọc phải dừng lại, phải nghĩ ngợi. Anh không giật tít bằng cảm xúc rẻ tiền, mà lay động bằng hình ảnh: một cái nhìn xa xôi, một bàn tay lạnh run, một tiếng thở dài trong đêm rừng. Từng chi tiết nhỏ ấy, được níu kéo để sống dậy từng trang văn. 

2. Nhà báo và sự cô độc trong vai trò người kể chuyện

Làm báo đã là đơn độc. Làm báo mà còn mang trong mình tâm hồn nhà văn - đó là một kiểu cô độc khôn nguôi. Dưới ngầm trời lưu lạc là nơi Đỗ Doãn Hoàng hiện lên như một lữ khách bị lưu đày khỏi thế giới ồn ào, thực dụng. Anh đi xuyên qua những vùng đất “ngoài lề truyền thông”, không phải để săn tin mà để lắng nghe. Anh không quan tâm đến tốc độ đăng tải, mà đau đáu về điều chưa kịp nói.

Không ít lần, Hoàng để người đọc cảm nhận sự trống trải trong chính hành trình của mình. Giữa núi rừng heo hút hay trên chuyến xe đêm đổ về miền biên viễn, nhân vật “tôi” trong sách luôn mang theo sự lặng thầm, ngẫm ngợi. Nhà báo ấy không đơn thuần là người thu thập tư liệu, mà còn là kẻ đối thoại với chính mình: “Tôi đã viết đủ chưa? Tôi có quyền kể về nỗi đau của người khác không?”.

Đó là câu hỏi của một người viết có lương tri – điều đang trở nên hiếm hoi giữa thời đại mà nhà báo dễ bị cuốn vào vòng xoáy của tin nhanh. Và chính vì có lương tri, anh mới dám đau, mới dám chọn cách viết khó hơn, chậm rãi, sâu sắc, thậm chí không “thời sự” nữa, nhưng lại mang tính vĩnh cửu.

3. Sự hòa quyện hiếm hoi giữa chất liệu đời và tinh thần văn học

Dưới ngầm trời lưu lạc có kết cấu như một bản giao hưởng với nhiều cung bậc. Mỗi bài viết là một chương, mỗi nhân vật là một nốt nhạc. Nhưng điểm kỳ lạ là: dù đề tài đa dạng từ người tị nạn, di cư, thân phận người lính cũ, đến những vùng đất hoang sơ, thì toàn bộ cuốn sách vẫn mang một nhịp điệu thống nhất: nhịp của sự cảm thông.

Đỗ Doãn Hoàng không kể chuyện như một nhà báo, anh kể như một người từng sống qua đời sống của nhân vật. Anh viết bằng trải nghiệm, bằng va đập, bằng sự “đắm chìm” chứ không “tác nghiệp”. Ở đó, ngôn ngữ báo chí được chuyển hóa thành ngôn ngữ văn học.

Không nhiều nhà báo có khả năng tạo ra những hình ảnh như thế. Nhưng Hoàng không làm vậy để phô diễn. Anh viết như một bản năng. Và điều ấy làm nên chất riêng: vừa nhòe ranh giới giữa báo chí và văn học, vừa định hình một dòng chảy mới cho thể loại bút ký hiện đại, nơi con chữ vừa mang tin, vừa mang tình.

4. Một tấm gương soi lại nghề viết: Thức tỉnh và tự vấn

Có thể nói, Dưới ngầm trời lưu lạc không chỉ là cuốn sách để đọc, mà còn là để soi. Soi vào những giới hạn của nghề viết hôm nay. Soi vào những câu hỏi muôn thuở: Viết để làm gì? Viết cho ai? Và liệu người viết còn đủ can đảm để đặt nhân phẩm lên trên sự nghiệp?

Bằng chính lối viết nhiều tầng bậc của mình, Hoàng đã đặt ra những tiêu chuẩn ngầm cho người làm báo mang tâm hồn văn sĩ: Không thỏa hiệp với sự dễ dãi. Không đánh mất sự đồng cảm. Và quan trọng nhất: không từ bỏ trách nhiệm kể lại thế giới này bằng đôi mắt nhân văn nhất có thể.

Không phải ai cũng cần viết như Hoàng. Nhưng đọc Hoàng, người làm báo sẽ thấy mình cần sống sâu hơn với nghề. Người đọc sẽ thấy mình cần chậm lại để lắng nghe. Và văn chương trong cái vỏ bọc báo chí, sẽ lại có chỗ đứng như một thứ ánh sáng, soi vào những góc khuất mà ánh đèn thời sự thường bỏ qua, một ngòi bút mang dáng dấp của đôi chân.

Người ta thường ví ngòi bút nhà báo như một thứ vũ khí. Nhưng ở Đỗ Doãn Hoàng, ngòi bút không chiến đấu bằng sự giận dữ, mà bằng sự lặng thầm của một đôi chân không ngừng lưu lạc. Chân đi đến đâu, chữ thấm đến đó. Chân bước vào vùng tối, chữ hóa thành ánh sáng.

Dưới ngầm trời lưu lạc là minh chứng cho một kiểu viết hiếm hoi, nơi nghề báo không là kẻ thợ săn thông tin, mà là người hành hương. Và Đỗ Doãn Hoàng, trong sự hòa quyện giữa nhà báo và nhà văn, đã viết nên một hành trình đầy ám ảnh, đầy cảm xúc, khiến người đọc không thể thờ ơ, khiến người làm báo phải nhìn lại mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm