TIN TỨC

Những ngón tay mải miết lần tìm mạch sống

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-27 17:23:16
mail facebook google pos stwis
1523 lượt xem

TUẤN TRẦN

(Cảm tập thơ “Năm ngón chưa đặt tên” của nhà thơ Đinh Nho Tuấn)

Khi gấp tập "Năm ngón chưa đặt tên" tôi thấy đầm đầy mật ngôn của kẻ đói, người khát... “cạn ngày”. Đó là hành trình của "ngôn cùng lý tận" để bảo vệ, bênh vực cái hiền thiện và oán ghét thói đời bạc nhược, ươn hèn. Là giọt lệ xót đau “Rồi khép hờ nhau tiếng ngày qua”. Những bóng chữ loang lổ nỗ lực chiếu sáng trong mùng đêm huyễn ẩn tối tăm. “Một ngày trôi qua/ Con chim cất tiếng hót rồi bay đi/ Sao ta sợ sự thật như thế”.  Thứ văn chương vô mệnh tấm tức trên trang giấy: "Gặm, khoét khôn lường", ngụp sâu tiếng việt. Sự hóa thân của "em" trong nhiều dạng/ thể để tự sự về “nạn đói tình người”. Mỗi lần chủ thể trữ tình gọi người thương là mịt mù bụi phủ, đậm dày tình tháng năm và những trải nghiệm ăn gió mòn sương, kiếp người lưu đày đến rộng khổ khiếp nhược. “Như đôi chân thủy tinh nhún nhảy/ Trên cạm bẫy cuộc đời". Kẻ mộng du đi dưới trời đêm đầy hư ảnh "hồn xé thành trăm mảnh" hỏi người có "mang về nhánh trên tay". Những con chữ quờ quạng uống hơi đêm tìm nhau hoảng loạn trong "sương khói hững hờ, hạc vỗ cánh bay". Nhà thơ đi tìm tiếng hình loài người trong bể đời trũng sâu đã vội vã giá đông để sắp đặt "dấu chấm hết": “Đêm xôn xao gãy lên ngàn cung nhớ/ Em tiếc đêm nên đã khóc bao ngày/ Ta lang thang giữa sao trời độ lượng/ Những lá vàng lòa lấp lá cỏ may”.

Những góp nhặt vụn vỡ nhân sinh để hồi phục tàn tích đời nhiều những cuộc tìm chính mình. Có khi đi đến nửa kia bán cầu rồi lại về với cội nguồn sinh dưỡng. Tiếng kêu của những chữ sống sót, ủ trong muôn tiếng sáo diều.  Bởi "tiếng sáo diều xưa trong lòng tôi xây tổ". Nhà thơ luôn đau xót nỗi suy tàn, phân rã và ăn bắt trách nhiệm của mình cùng canh cánh nỗi quê hương. Nơi mặt đất lạnh tanh lòng người, “chân lý long đong”, hồn thơ đi tìm nguồn nước sông sâu diệu vợi hòng khỏa lấp cơn khát kết nối để làm đầy. Giấy nát, tự tàn, tiếng gọi “Thi nhân hỡi” như tái tê cõi lòng: “Thi nhân hỡi”/…Người quỳ nhiều giấy thơm tê buốt…/ Đây này hố chôn tập thể/ Người còn dưới đó ngủ mê”. Nhà thơ nói về thế giới thơ của mình, đã không còn những cõi thiêng liêng, chỉ còn điệu xảo trá vô luân, những kẻ đã mạo danh thi ca để đấu hót tin mừng. Một thời đại khi con chữ “ăn xổi ở thì”, cạn ráo nhân tính: “Mặt con chữ xỏ xiên/ Hoa vàng bay đau xót”…

Để rồi, thèm thuồng cõi an/ yên nơi bụng mẹ. Đó là thời khắc ngủ say thiêng liêng. Tác giả cần nhiều hơn im lặng để những "trái tim náu ẩn”, "đôi tai thôi rỉ máu" khi nghe tiếng đau đời sự thật bất nhẫn, phỉ nhân. Và để những mầm ủ trong vỏ cây khô cựa quậy, "ứa nhựa nơi em nở".

Tiếng thơ nỗ lực để "câm lặng", để tránh ánh nhìn trực cảm vào sự thật bất khiết nhưng tự thân lòng tiếng mở ra và phơi bày, lộ tẩy cái ác buộc hồn thi nhân phải đồng thời khổ luyện chịu đau: mỗi lần một mất mát đã từng của chiến tranh hiện về trong kí ức lại hoác miệng lần nữa hình riệt vết đau tưởng chừng đã lên da. "Tên đổ tể" kia đã làm "sông Đông" còn không "sự êm đềm"?. Không thể hòa giải, không thể tha thứ, không thể xoa dịu, không thể giãi bày. Chỉ còn có thể “bay”, "buông về mây trắng em ơi". Hồn thơ vô vọng trong cơn sốt thời đại, cái giá sự sống bằng máu và nước mắt. Có thể thấy cuộc hành trình đi tìm tín điều thiện lương thật mong manh trong không/ thời gian nghệ thuật. Điều đó tôn bồi cho tình nhân loại tha thiết trong tiếng lòng của con người luôn nhiều nỗi niềm thế sự, nhân sinh.

Hồn thi nhân "Tự vấn": Có phải thơ là ngôn ngữ của nước mắt. Chảy vô hồi đến cạn, hóa hơi, vẫn săn mặn vị muối. Cạo trên lớp giấy thiệp dấu máu hồng từng tràn chảy. Đó cũng là quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Đinh Nho Tuấn: Đừng viết gì khi trống rỗng, phải đổ máu và nước mắt lan thấm về sự đời đổ nát rồi hãy cầm bút "vẽ đời" cho ra dáng hình thẩm mỹ đích thực. Họa những nét vẽ đậm dày tín hiệu nhân sinh và thời cuộc.

Tiếng thơ trong đêm làm “Hồn anh đỡ bơ vơ”. Thứ tiếng phô mạch giãi bày những sâu kín tâm tư. Trở thành tiếng hình tương tư, trắc ẩn, vun bồi những cơn mộng “hồi tưởng”, “Kí ức đắp bồi dính dấp thịt da”. Tiếng khởi sự cơn sốt “đối thoại” để làm người. Đối thoại với em, với anh, với quê hương, với những ngã đường, ngõ ngách, khiếp sống, với sự thật, để điều công bình được đối mặt cởi mở với những dối gạt nghịch thường mà cắt nghĩa sống động những điều “nhỏ nhoi” bắt đầu từ “em” “máu thịt và tình thương”

Hồn thơ Đinh Nho Tuấn cần cù đẽo gọt, gom lấy một vài khoảnh khắc tận hưởng thuần túy khi các giác quan nở rộ để đổi lấy sự kiên nhẫn khắc kỷ của các bài học ngôn ngữ. Để nhìn đời biết đớn đau đó mà nguôi dần trong tiếng gọi yêu thương: “Em”“hoa” (nở) đã ngàn lần xuất hiện trong tập thơ như sự bền bỉ đấu tranh và chiến thắng cái ác của “thiên thần”. Nhà thơ không phải kẻ cố gắng sáng tác thơ mà là sự sống thiêng liêng cùng các từ, ngữ, những gạch nối, khoảng cách mở lối đùa chơi. Khi soi mình vào bể đời, ngắm nhìn nhân sinh, khi thấy những “bỏng rát thời cuộc” con chữ cũng trở nên “lửa táp cháy xương”. Tiếng thơ giăng co thiện/ ác, nỗ lực chen chúc, đấu tranh trong cơ thể chật chội, kêu đòi cuộc sống phải cho tôi khát khao được yêu, nói điều tự do…

Bao lo âu cho sự mênh mông chuyển dời, thế nhưng “Con không thể quay về trốn vào bụng mẹ”. Có những người là gió, gió phải được tự do. Con không là cây để “lạc địa sinh căn”, cắm rễ sâu vào trơ khốc lạnh lùng. Con đi trong linh hồn khắc khoải, những chữ “kết án bạo lực”, chối bỏ sự tham tàn, xa xỉ, thói đời điểu giả, điêu trá, cợt đùa…

Hành trình đặt tên cho năm ngón tay. Có thể, điểm ga cuối cùng không còn ngón nào nữa để đặt tên. Bởi năm ngón kia hay hoặc cả bàn tay đã bị mài nhẵn, trơ cùi… Ý chí sống được mài kiệt trong thơ, bàn tay lao động cần mẫn đã xác xơ cụt què… Để tiếng việt lên ngôi, để choàng ôm những số phận.

Cũng không hẳn là “gió” đi rồi chẳng muốn về. Đinh Nho Tuấn ý thức sâu sắc về quê hương, lòng ái quốc vô biên thông qua những tôn thờ cái đẹp, nhà thơ đã chấm phá những nét kì họa về Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, Pleiku… Gắn thiết đời thơ cho mảnh đất và tình người quê mình. Cùng lòng oán giận kịch liệt chiến tranh, hơn ai hết Việt Nam hiểu “chiến tranh không phải trò đùa”. Nhưng lại không phải là “cây”, yên ắng bất động nhìn ngắm diện mạo nhân sinh rồi ngậm ngùi, cúi đầu đắng cay trước bão giông. Anh là “cây” những cây nhổ rễ, phiên bạt, cây tự chuyển lưu, ăn bắt vào đất lần tìm mạch sống, rồi lại hẹn hò với gió những kiếp sống bất tận, “vượt biên”, vượt cả không gian của tâm tưởng để huyền hòa vũ trụ…:

Khi hóa là đứa trẻ lạc lõng trong những cuộc tụ họp dưới mái nhà, mặt đất là giường chiếu, đầu sông cuối bãi đứa trẻ kia đói lòng khát sữa. Khi trong thơ tôi là giai cấp công nông từ quê lên phố kiếm từng cắt lẽ. Cái cười ngây ngô nơi khóe miệng để xua đi đời bần bạc vẫn không khua nỗi những tiếng nhạc mưa rơi vào lòng bao chất chứa nỗi niềm xa quê: “giọt giọt trùng triềng bạc lẻ long đong”. Bóng “lom khom làng quê, lom khom mẹ/ Thời gian vón lại dưa cà” vẫn cán qua nỗi nghèn nghẹn nơi tâm trí dẫu đã ăn thấm “ly rượu trong veo mồ hôi”.

Giữa biển đời nhiều lạc lõng, những vấp ngã, nỗi đau, sự bất an khi phải hòa nhập và khó khăn khi học cách chung sống. Tất cả trải nghiệm tứa máu nhân sinh đó đã giúp tác giả nhận ra và biết ơn sự hoang dã, góc vườn tuổi thơ, những con đường về quê mẹ, “nồi bánh chưng đêm ba mươi”. Để rồi hồn thơ tri âm tình bằng hữu, nâng chén tri ngộ. Hay trân trọng những “nhỏ nhoi”: Chú kiến, những con sâu, những ngọn cỏ, đóa hoa những con người trong sách, những cuốn nhật ký, những tâm sự “Cát”, đã cho lấy cơ hội ta tự “ru mình chậm lại” trong tiếng thì thầm bất tận của những âm thanh, để bốc hơi và nuôi dưỡng những cái cây bị bật gốc.

Lời thơ đã trò chuyện trên nhiều mặt trận tâm tưởng, trong thơ có tiếng hình thời đại, vượt không gian, địa hạt quê hương để chiêm ngắm người từ sông rộng, núi dài nhưng rồi lại trở về nghe thanh âm “sáo diều cõng môi ru của mẹ” hãy thôi đi nỗi “chân trời góc bể lang thang”…

Thế giới ồn ào, những câu chuyện lớn, những sự kiện bận rộn, chúng ta ngồi bên nhau, vắng vẻ, ánh nến nhấp nháy, một vài biểu cảm biệt lập: “Gió dìu lá khô/…tái sinh những điều giản dị”…mơ hồ, lạ lẫm, tóc rụng trong sự lãng quên của ký ức. Đinh Nho Tuấn đi từ nỗi đau và có cả những giăng mắc hận thù về thói đời tham tàn của kẻ thống trị. Hơn ai hết hồn thơ dám đối mặt với sự tuyệt vọng để tin tưởng rồi tìm kiếm chiều sâu và ý nghĩa của cuộc sống, cũng như nghệ thuật nơi “giọt nước mắt”: “Giọt nước qua sông dài bể rộng/ lọc tinh cầu nguồn mạch trong veo/ Giọt nước qua niềm vui, bất hạnh/ Về mắt em chợt bảy sắc màu”. Đó là cuộc lặn sâu vào thế giới cá nhân và bóng tối của ngôn ngữ thấy vi diệu những bình yên, “tha thiết những lần đi” rồi trở về vẹn nguyên bên “em” nhịp đập đời thường.

Ta thấy bầu trời và đại dương nơi đáy ly: “Ly rượu tháng tư cho hai người uống/ Một là tôi và một thằng trong tôi”. “Thằng trong tôi” hẳn là “thằng” nhà thơ đang “xin lỗi chính mình”: “Xin lỗi những bài thơ rách nát/ Những bài thơ máng cũ nằm lòng/ Những bài thơ xanh vàng tím đỏ/ Những bài thơ chỉ biết chảy theo dòng”. Trong thơ tác giả luôn đau một nỗi đau sáng tạo. Luôn “thắc mắc” về mối quan hệ sắp sẵn từ ngàn đời của văn chương và chính trị: Quan hệ sở hữu quyền lực. Tác giả liên tục đặt ra ẩn dụ về năng lực tự xóa bỏ “con đường vạch sẵn” vì theo tác giả đó là “kẻ thù của sáng tạo”. Chính vì thế nhà thơ mới yêu “ngang ngược”: Tôi yêu những bài thơ viết về sự thật/ Yêu ngọn lửa nhú lên không bị phũ phàng dập tắt”. Muốn là sói hoang nên “nghiện phá hủy chính mình”. Với Đinh Nho Tuấn nghệ thuật là ảnh mặt của sự thật, nhà thơ chọn cô đơn để lòng dũng cảm vượt qua những ranh giới hiện diện ở khắp mọi nơi.

“Khi còn năm ngón chưa đặt tên” theo cảm quan của tôi, đó là thi phẩm đã hữu hình hóa vẽ đẹp thẩm mỹ của hồn thơ Đinh Nho Tuấn. Cũng có thể, đó là “nhãn tự” của tập “Năm ngón chưa đặt tên”. “Mùa gió chướng” là bối cảnh nghịch thường của cuộc sống. “Em” và “anh” nhóm đốt “những hoàng hôn” để nỗi buồn trôi theo khói dĩ vãng. Hồn thơ tha thiết điều bình thường, trong ngọn lửa không phải hóa tro tàn mà “tái sinh điều giản dị”. Để rồi “Nâng tay em chân thật/ không để chạm vết thương đời”. Mong ước được gắn kết lấy bàn tay khi chưa đặt tên. Phải chăng, là bàn tay của buổi ban đầu khi chưa bám bụi mưu sinh. Tay trắng/ trắng tay, khi lòng tham, sự ích kỉ chưa kiếm tìm…

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm