TIN TỨC

Bùi Minh Vũ - Buông neo hồn thơ vào biển đảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-02 02:19:24
mail facebook google pos stwis
1263 lượt xem

NGUYỄN PHƯƠNG HÀ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sau 2 tập thơ Lão ngư Kỳ Tân (2014), Biển và quê hương (2020) Bùi Minh Vũ  cho ra mắt tập thơ Buông neo của (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 113 bài thơ viết về đề tài biển đảo. Cảm hứng chung của tập thơ  là tình cảm mến yêu, cảm phục, trăn trở và gắn bó tâm hồn với với biển đảo, với Trường Sa, Hoàng Sa, với những người lính đảo và người dân bám biển. Những tập thơ trước, Bùi Minh Vũ viết từ cảm xúc của một công dân yêu nước hướng về biển đảo với sự ngưỡng vọng. Ở tập thơ này, sau những chuyến vượt sóng ra Trường Sa, thăm đảo chìm đảo nổi, nhà thơ đã “Buông neo” hồn thơ vào biển đảo của Tổ quốc. Bài đầu của tập thơ đã thể hiện điều đó: Sóng ngọt như hoa trái lững lờ thè chiếc lưỡi/Bình minh trườn qua con chữ/Bài thơ quyết liệt buông neo/Như cột mốc đứng thẳng (Buông neo).

 

Nhà thơ Bùi Minh Vũ

 

Đọc tập thơ, thấy hiện lên rất nhiều hình ảnh biển đảo từ Trường Sa, Hoàng Sa, đến các đảo Sinh Trồn, Lý Sơn, Song Tử Tây, Đá Tây, bãi Thuyền Chài, Gạc Ma, Sơn ca, đảo chìm, đảo nổi, nước biển, sóng biển, ở nhiều thời điểm khác nhau: sáng, trưa, chiều, tối, rạng đông, mặt trời, ánh trăng, sao đêm… Hình ảnh biển đảo hiện lên trong thơ như một bức tranh thật đẹp: “Trời vừa hừng sáng/Đảo như thân thể mỹ miều/Giữa làng quê ghì chân tôi thăm thẳm” (Trời hừng sáng), “Đêm dưới đáy Gạc Ma/Vút ve đàn cá nhỏ/Nước biển lóng lánh tia mắt đỏ” (Độc huyền cầm). Đó là một đêm trăng trên đảo, đẹp, thanh vắng mà không hoang vu: “Trăng Lý Sơn nở hoa/Thơm trên ngôi mộ gió” (Trăng nhớ). Tác giả có những hình ảnh thơ lung linh đa nghĩa, gợi nhiều liên tưởng xa xôi, lấp lánh: “Luồng ánh sáng trong vắt/Nở hoa/Đính trên đảo Sinh Tồn”(Ánh sáng). Đó là khi ta bắt gặp ngọn Hải đăng như đoá hoa nở trên biển trời Tổ quốc: “Từ hun hút xa mờ chợt loé/Ngọn Hải đăng Trường Sa bật sáng/Nâng ta lên thiết kế lại dáng hình” (Đoá hoa nở). Trong tâm tưởng của nhà thơ, biển đảo không dữ dội, náo động mà gần gũi như cuộc sống bình dị của quê hương: “Người phụ nữ làng chài/Sải tay ra đảo nổi/Há miệng ngậm mặt trời” (Người phụ nữ làng chài). Nhà thơ thật tinh tế khi cảm nhân và so sánh hình ảnh chiếc lá bàng vuông với chiếc thuyền mo cau thuở ấu thơ để biểu hiện biển đảo gần gũi, thân thương: “Toả hương thơm dịu ngần/Những lá bàng vuông đung đưa biển gió/Như chiếc mo cau mẹ quạt ngày xưa” (Hoa cau trắng). Âm thanh tiếng chuông chùa hư thực đưa biển đảo gắn với đất liền Tổ quốc, với văn hoá xứ sở và cuộc sống yên bình của nhân dân: “Thênh thang trên đảo Đá Tây/Tiếng chuông chùa trườn trên nước” (Trên đảo Đá Tây). Biển là nguồn tài nguyên vô tận đem đến cho người dân cuộc sống ấm no: “Ngoài khơi ghe chói sáng/ Bầy cá cơm ăn đèn/ Biển như vòng tay mẹ/Ấm sang đời cháu con” (Âm vang); “Nhìn tấm lưới đính hoa/Mùa cưới cá dạt dào/Niềm vui từ biển đến” (Đêm biển khơi). Hình ảnh những chiếc thuyền ngư dân bám biển, bảo vệ chủ quyền và đánh bắt hải sản được gợi lên thật thi vị: “Những ngón tay đan tiếng cười/Thành bè thuyền/Hình nốt nhạc/là những chuyến ra khơi” (Kết tinh). Biển đảo quê hương giàu đẹp cũng là nơi kẻ ngoại bang ngày đêm xâm lấn, quấy phá, cuộc sống lao động của ngư dân chưa được bình yên: “Chiếc thuyền câu ngoài biển/Nhỏ dần/Nhỏ dần/Rồi mất hút/Giữa làn sóng xoay mình quanh chiếc thuyền lạ” (Nghĩ). Đó là nỗi trăn trở thường trực của tác giả, của nhân dân ta đối với chủ quyền biển đảo.

Hoàng Sa, Trường Sa là một phần máu thịt không thể chia rời của Tổ quốc Việt Nam. Từ thời quốc gia phong kiến độc lập, những dân binh đã theo lệnh Vua ra biển xa, cắm mốc chủ quyền quốc gia trên đảo: “Người đi Trường Sa cắm mốc/Người đi Hoàng Sa cắm mốc/Cõi mở rồi/Ở lại” (Mở cõi). Ngày nay, Hải quân nhân dân Việt Nam tiếp tục ra khơi bám biển, bám đảo, giữ vững biển trời quê hương; nhân dân cả nước luôn hướng về biển đảo yêu thương. Dù cuộc sống, sinh hoạt và chiến đấu còn nhiều khó khăn gian khổ nhưng những người lính đảo vẫn luôn lạc quan, yêu đời, quyết tâm giữ chắc tay súng, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng: “Nụ cười thơm trái chín/Gian truân ngạo nghễ xanh/Nụ cười soi sáng đảo/Gió bão bung nở hoa” (Thức tỉnh). Những người lính đảo và sự hy sinh thầm lặng của họ để giữ vững biển đảo Tổ quốc đã hoá thân thành những mốc chủ quyền: “Chợt thấy những chiếc mũ trắng/Một ngôi sao/Hai ngôi sao/Ba ngôi sao/Sắp hàng luồng ánh sáng chói chang” (Ánh sáng). Những người chiến sĩ nằm lại mãi nơi biển khơi đã hoá thân vào sóng nước, thành “hương hoa” của sóng, thành những ngôi sao đêm không bao giờ tắt. Với lòng yêu kính và cảm phục phẩm chất anh hùng của người chiến sĩ Hải quân, tác giả đã dùng hình tượng thơ để bất tử hoá sự hy sinh của họ: “Những linh hồn yên ngủ/Trên nấm mồ nước mặn/Hương hoa sóng/Lăn tăn/Chảy dài/Như ngôi sao không nhắm mắt” (Thắp sáng). Hình ảnh những cây lá bàng vuông như một biểu tượng của Trường Sa, Hoàng Sa được lặp lại trong nhiều bài thơ thật ám ảnh: “Bên gốc bàng vuông sừng sững/Ngỡ mình đang sống/Giữa thủ đô” (Vào lúc này), “Những lá bàng vuông đung đưa biển gió/Như chiếc mo cau mẹ quạt ngày xưa” (Hoa cau trắng), “Màu gió trăng thủ thỉ/Hương nước xanh thầm thì/Hoa bàng vuông bung nở” (Trời hừng sáng), “Không xa lắm/Hoa bàng vuông thơm như môi/Những màu đêm ngọt” (Trăng), “Mẹ ôm biển vào lòng/Nghe hoa bàng vuông nở/Lặng lẽ/Ánh trăng vàng” (Mẹ chờ), v.v…

Cùng với biển đảo là hình ảnh “cái tôi” trữ tình nhà thơ, thể hiện tình cảm gắn bó, hoá thân vào biển đảo: “Tôi tô lại chữ Trường Sa/To như rạn san hô như đảo chìm đảo nổi/Như khoảng trống trên trời/và tôi nhìn/Thấy tôi ở đó” (Tô chữ). Nhà thơ thấy mình với biển như con sóng, như đàn hải âu: “Nắng chiều/Lưa thưa ốm/Hải âu bay vội vàng/Sóng như chàng thi sĩ/Ngẩn ngơ chờ/Mùa sang” (Ru mùa) và sự hoá thân nồng nàn vào biển: “Em tắm biển/Hình như/Nước biển/Có mùi thơm mái tóc anh” (Tắm biển). Gắn bó với biển đảo qua những chuyến đi, hình ảnh biển đảo ám ảnh tâm hồn nhà thơ, nhiều khi hiện lên trong mơ tưởng: “Đêm mơ đặt chân lên bãi Thuyền Chài/Trăng ngọc bích thật thà như đứa bé/Nắm tay tôi” (Bức vẽ). Ước vọng gắn bó với biển đảo được biểu hiện khá sinh động bằng việc nhập thân vào hình ảnh sóng, gió: “Đôi khi muốn làm gió/ Cưỡi sóng biển khuya/ Đôi khi muốn làm sóng/ Lờn vờn quanh Hoàng Sa” (Đôi khi). Yêu thương, gắn bó với biển đảo là biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước, sự gắn bó và trách nhiệm của người nghệ sĩ với Tổ quốc mình: “Đêm đêm tôi úp mặt vào sóng/Nghe bài ca Tổ quốc tôi’ (Khúc hát) và một khát vọng thiêng liêng: “Con nhìn lên khung ảnh/Nghe cha bảo/ Con hãy đeo ba lô/ Và cùng cha ra biển” (Cùng cha)…

 

 Tập thơ Buông neo của nhà thơ Bùi Minh Vũ

 

Ở tập thơ Buông neo, Bùi Minh Vũ đã chuyển hẳn sang phương thức biểu hiện của thơ siêu thực hậu hiện đại. Đây là một trong những hướng đổi mới thơ Việt Nam hiện nay. Người đọc nhận ra hình ảnh siêu thực rất điển hình trong bài Ghi chép bên đường: “Ký ức trườn qua/Khoanh tròn/Con rắn lục/chạm vào nắng tím làng tôi”. Nhà thơ chú ý khai thác thế giới cảm thấy trong mơ, trong tiềm thức, ảo giác, biểu hiện bằng những ẩn dụ siêu thực có sức ám gợi: “Tôi thấy ngoài Trường Sa/Những ngôi sao chân thật/Những ngôi sao sắp hàng/ Những ngôi sao đi rầm rập” (Phát sáng). Anh vận dụng triệt để phương thức lạ hoá để xây dựng hàng loạt những hình ảnh so sánh siêu thực, những liên tưởng dựa trên những nghịch lý, bất ngờ, đánh mạnh vào óc tưởng tượng của người đọc: “Sóng ngọt như hoa trái lững lờ thè chiếc lưỡi” (Buông neo), “Sóng như chàng thi sĩ/Ngẩn ngơ chờ mùa sang” (Ru mùa), “Tiếng sóng vọng vào giấc mơ/tha thiết ngày xa nhà/vàng như hoa vạn thọ/ lướt thướt đôi mắt Song Tử Tây” (Tiếng sóng), vv…Hướng về thế giới vô thức, đề cao ngẫu hứng, ghi nhận những ấn tượng mơ hồ, mong manh lướt qua trong đầu, tác giả tạo ra nhiều liên tưởng thú vị: “Khi đoá hoa nở dưới nước/Giọt nước trên sóng lăn tăn/Gió con cá vượt/Trăng ngẩn ngơ một gã si tình” (Đoá hoa nở). Chi tiết, hình ảnh thực của biển đảo ghi nhận bằng giác quan đã được chuyển hoá thành những hình ảnh giấc mơ, ảo giác, tạo nên sự liên tưởng phong phú nơi người đọc: “Đêm qua/Tôi thấy những linh hồn trắng/Tựa vào nhau/Cong như chiến hào” (Những linh hồn trắng), “Ta lặn một hơi dài/Trôi tự do theo dòng hải lưu cùng bầy cá mặt trời/Sau nửa đêm/Ta và bầy cá bắt tay nhau/Hướng về Trường Sa thương nhớ” (Điền dã ngoài biển). Những hình ảnh, sự vật cách xa nhau được đặt cạnh nhau, gợi liên tưởng xa mờ, đa nghĩa: “Tôi câu mực/Từng con mặt trăng/Giấc mơ thánh thót” (Câu mực), “Dấu vết cánh buồm đâu đó/Giữa biển khơi/Như vết môi son tháng Giêng/Như bông hồng sinh nhật/Như tiếng gà khuya xa mờ lấp lánh/Hiển lộ trong chiếc khăn em thêu” (Cánh buồm), “Sóng mật ong cá rỉa/Cõng giấc mơ Sinh Tồn/Mang theo trái tim mẹ/Gặp gỡ nơi đảo xa(Giấc mơ Sinh Tồn). Nhà thơ tạo ra cách trình bày mới mẻ trong bài Chú thích: “Ta hớn hở/ Bước lên đảo chìm/Đi qua bãi cọc/Hiện lên chữ số/ 1/ 2/ 8/ 8”. Con số 1288 được cấu tạo thành 4 dòng thơ theo phương thức lạ hoá. Thì ra, những mũi đá nhọn dưới đảo chìm ở Trường Sa gợi hình ảnh bãi cọc Cao Quỳ trên sông Bạch Đằng đã làm tan tành đạo thuỷ quân Nguyên Mông hùng mạnh, năm 1288. Một sự so sánh ngầm thú vị làm nổi bật sức mạnh của biển đảo Việt Nam, của con người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền Tổ quốc. Tác giả đã đổi mới trong việc ngắt dòng thơ, không dùng dấu câu, ngắt giọng theo nhịp rung của cảm xúc, sự mời gọi của tâm tưởng.

Nhìn chung, Buông neo là một thể nghiệm khá thành công của Bùi Minh Vũ. Với một đề tài quen thuộc có tính thời sự nhưng nhà thơ đã có cách thể hiện mới mẻ và hấp dẫn. Nhà thơ đã ảo hoá những hình ảnh ghi nhận từ giác quan, tạo ra hình tượng thơ có độ nhoè về nghĩa, gợi được nhiều liên tưởng nơi người đọc. Tuy nhiên, tập thơ có những bài, những câu viết dễ dãi, hạn chế về nhịp điệu; hình tượng và cảm xúc còn nhạt nhoà, thiếu sức thuyết phục. Mặt khác, lối thể hiện siêu thực “rất kén”người đọc vì ít nhiều gây khó khăn và ức chế trong việc tiếp nhận, nhất là đối với người đọc đại chúng. Nên chăng, dùng siêu thực như một thủ pháp nghệ thuật biểu hiện cho phương thức thơ trữ tình hiện thực thì người đọc dễ đồng cảm hơn, hiệu quả tác động mạnh mẽ hơn./.

N.P.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm