TIN TỨC

Bùi Minh Vũ - Buông neo hồn thơ vào biển đảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-02 02:19:24
mail facebook google pos stwis
1511 lượt xem

NGUYỄN PHƯƠNG HÀ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sau 2 tập thơ Lão ngư Kỳ Tân (2014), Biển và quê hương (2020) Bùi Minh Vũ  cho ra mắt tập thơ Buông neo của (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 113 bài thơ viết về đề tài biển đảo. Cảm hứng chung của tập thơ  là tình cảm mến yêu, cảm phục, trăn trở và gắn bó tâm hồn với với biển đảo, với Trường Sa, Hoàng Sa, với những người lính đảo và người dân bám biển. Những tập thơ trước, Bùi Minh Vũ viết từ cảm xúc của một công dân yêu nước hướng về biển đảo với sự ngưỡng vọng. Ở tập thơ này, sau những chuyến vượt sóng ra Trường Sa, thăm đảo chìm đảo nổi, nhà thơ đã “Buông neo” hồn thơ vào biển đảo của Tổ quốc. Bài đầu của tập thơ đã thể hiện điều đó: Sóng ngọt như hoa trái lững lờ thè chiếc lưỡi/Bình minh trườn qua con chữ/Bài thơ quyết liệt buông neo/Như cột mốc đứng thẳng (Buông neo).

 

Nhà thơ Bùi Minh Vũ

 

Đọc tập thơ, thấy hiện lên rất nhiều hình ảnh biển đảo từ Trường Sa, Hoàng Sa, đến các đảo Sinh Trồn, Lý Sơn, Song Tử Tây, Đá Tây, bãi Thuyền Chài, Gạc Ma, Sơn ca, đảo chìm, đảo nổi, nước biển, sóng biển, ở nhiều thời điểm khác nhau: sáng, trưa, chiều, tối, rạng đông, mặt trời, ánh trăng, sao đêm… Hình ảnh biển đảo hiện lên trong thơ như một bức tranh thật đẹp: “Trời vừa hừng sáng/Đảo như thân thể mỹ miều/Giữa làng quê ghì chân tôi thăm thẳm” (Trời hừng sáng), “Đêm dưới đáy Gạc Ma/Vút ve đàn cá nhỏ/Nước biển lóng lánh tia mắt đỏ” (Độc huyền cầm). Đó là một đêm trăng trên đảo, đẹp, thanh vắng mà không hoang vu: “Trăng Lý Sơn nở hoa/Thơm trên ngôi mộ gió” (Trăng nhớ). Tác giả có những hình ảnh thơ lung linh đa nghĩa, gợi nhiều liên tưởng xa xôi, lấp lánh: “Luồng ánh sáng trong vắt/Nở hoa/Đính trên đảo Sinh Tồn”(Ánh sáng). Đó là khi ta bắt gặp ngọn Hải đăng như đoá hoa nở trên biển trời Tổ quốc: “Từ hun hút xa mờ chợt loé/Ngọn Hải đăng Trường Sa bật sáng/Nâng ta lên thiết kế lại dáng hình” (Đoá hoa nở). Trong tâm tưởng của nhà thơ, biển đảo không dữ dội, náo động mà gần gũi như cuộc sống bình dị của quê hương: “Người phụ nữ làng chài/Sải tay ra đảo nổi/Há miệng ngậm mặt trời” (Người phụ nữ làng chài). Nhà thơ thật tinh tế khi cảm nhân và so sánh hình ảnh chiếc lá bàng vuông với chiếc thuyền mo cau thuở ấu thơ để biểu hiện biển đảo gần gũi, thân thương: “Toả hương thơm dịu ngần/Những lá bàng vuông đung đưa biển gió/Như chiếc mo cau mẹ quạt ngày xưa” (Hoa cau trắng). Âm thanh tiếng chuông chùa hư thực đưa biển đảo gắn với đất liền Tổ quốc, với văn hoá xứ sở và cuộc sống yên bình của nhân dân: “Thênh thang trên đảo Đá Tây/Tiếng chuông chùa trườn trên nước” (Trên đảo Đá Tây). Biển là nguồn tài nguyên vô tận đem đến cho người dân cuộc sống ấm no: “Ngoài khơi ghe chói sáng/ Bầy cá cơm ăn đèn/ Biển như vòng tay mẹ/Ấm sang đời cháu con” (Âm vang); “Nhìn tấm lưới đính hoa/Mùa cưới cá dạt dào/Niềm vui từ biển đến” (Đêm biển khơi). Hình ảnh những chiếc thuyền ngư dân bám biển, bảo vệ chủ quyền và đánh bắt hải sản được gợi lên thật thi vị: “Những ngón tay đan tiếng cười/Thành bè thuyền/Hình nốt nhạc/là những chuyến ra khơi” (Kết tinh). Biển đảo quê hương giàu đẹp cũng là nơi kẻ ngoại bang ngày đêm xâm lấn, quấy phá, cuộc sống lao động của ngư dân chưa được bình yên: “Chiếc thuyền câu ngoài biển/Nhỏ dần/Nhỏ dần/Rồi mất hút/Giữa làn sóng xoay mình quanh chiếc thuyền lạ” (Nghĩ). Đó là nỗi trăn trở thường trực của tác giả, của nhân dân ta đối với chủ quyền biển đảo.

Hoàng Sa, Trường Sa là một phần máu thịt không thể chia rời của Tổ quốc Việt Nam. Từ thời quốc gia phong kiến độc lập, những dân binh đã theo lệnh Vua ra biển xa, cắm mốc chủ quyền quốc gia trên đảo: “Người đi Trường Sa cắm mốc/Người đi Hoàng Sa cắm mốc/Cõi mở rồi/Ở lại” (Mở cõi). Ngày nay, Hải quân nhân dân Việt Nam tiếp tục ra khơi bám biển, bám đảo, giữ vững biển trời quê hương; nhân dân cả nước luôn hướng về biển đảo yêu thương. Dù cuộc sống, sinh hoạt và chiến đấu còn nhiều khó khăn gian khổ nhưng những người lính đảo vẫn luôn lạc quan, yêu đời, quyết tâm giữ chắc tay súng, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng: “Nụ cười thơm trái chín/Gian truân ngạo nghễ xanh/Nụ cười soi sáng đảo/Gió bão bung nở hoa” (Thức tỉnh). Những người lính đảo và sự hy sinh thầm lặng của họ để giữ vững biển đảo Tổ quốc đã hoá thân thành những mốc chủ quyền: “Chợt thấy những chiếc mũ trắng/Một ngôi sao/Hai ngôi sao/Ba ngôi sao/Sắp hàng luồng ánh sáng chói chang” (Ánh sáng). Những người chiến sĩ nằm lại mãi nơi biển khơi đã hoá thân vào sóng nước, thành “hương hoa” của sóng, thành những ngôi sao đêm không bao giờ tắt. Với lòng yêu kính và cảm phục phẩm chất anh hùng của người chiến sĩ Hải quân, tác giả đã dùng hình tượng thơ để bất tử hoá sự hy sinh của họ: “Những linh hồn yên ngủ/Trên nấm mồ nước mặn/Hương hoa sóng/Lăn tăn/Chảy dài/Như ngôi sao không nhắm mắt” (Thắp sáng). Hình ảnh những cây lá bàng vuông như một biểu tượng của Trường Sa, Hoàng Sa được lặp lại trong nhiều bài thơ thật ám ảnh: “Bên gốc bàng vuông sừng sững/Ngỡ mình đang sống/Giữa thủ đô” (Vào lúc này), “Những lá bàng vuông đung đưa biển gió/Như chiếc mo cau mẹ quạt ngày xưa” (Hoa cau trắng), “Màu gió trăng thủ thỉ/Hương nước xanh thầm thì/Hoa bàng vuông bung nở” (Trời hừng sáng), “Không xa lắm/Hoa bàng vuông thơm như môi/Những màu đêm ngọt” (Trăng), “Mẹ ôm biển vào lòng/Nghe hoa bàng vuông nở/Lặng lẽ/Ánh trăng vàng” (Mẹ chờ), v.v…

Cùng với biển đảo là hình ảnh “cái tôi” trữ tình nhà thơ, thể hiện tình cảm gắn bó, hoá thân vào biển đảo: “Tôi tô lại chữ Trường Sa/To như rạn san hô như đảo chìm đảo nổi/Như khoảng trống trên trời/và tôi nhìn/Thấy tôi ở đó” (Tô chữ). Nhà thơ thấy mình với biển như con sóng, như đàn hải âu: “Nắng chiều/Lưa thưa ốm/Hải âu bay vội vàng/Sóng như chàng thi sĩ/Ngẩn ngơ chờ/Mùa sang” (Ru mùa) và sự hoá thân nồng nàn vào biển: “Em tắm biển/Hình như/Nước biển/Có mùi thơm mái tóc anh” (Tắm biển). Gắn bó với biển đảo qua những chuyến đi, hình ảnh biển đảo ám ảnh tâm hồn nhà thơ, nhiều khi hiện lên trong mơ tưởng: “Đêm mơ đặt chân lên bãi Thuyền Chài/Trăng ngọc bích thật thà như đứa bé/Nắm tay tôi” (Bức vẽ). Ước vọng gắn bó với biển đảo được biểu hiện khá sinh động bằng việc nhập thân vào hình ảnh sóng, gió: “Đôi khi muốn làm gió/ Cưỡi sóng biển khuya/ Đôi khi muốn làm sóng/ Lờn vờn quanh Hoàng Sa” (Đôi khi). Yêu thương, gắn bó với biển đảo là biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước, sự gắn bó và trách nhiệm của người nghệ sĩ với Tổ quốc mình: “Đêm đêm tôi úp mặt vào sóng/Nghe bài ca Tổ quốc tôi’ (Khúc hát) và một khát vọng thiêng liêng: “Con nhìn lên khung ảnh/Nghe cha bảo/ Con hãy đeo ba lô/ Và cùng cha ra biển” (Cùng cha)…

 

 Tập thơ Buông neo của nhà thơ Bùi Minh Vũ

 

Ở tập thơ Buông neo, Bùi Minh Vũ đã chuyển hẳn sang phương thức biểu hiện của thơ siêu thực hậu hiện đại. Đây là một trong những hướng đổi mới thơ Việt Nam hiện nay. Người đọc nhận ra hình ảnh siêu thực rất điển hình trong bài Ghi chép bên đường: “Ký ức trườn qua/Khoanh tròn/Con rắn lục/chạm vào nắng tím làng tôi”. Nhà thơ chú ý khai thác thế giới cảm thấy trong mơ, trong tiềm thức, ảo giác, biểu hiện bằng những ẩn dụ siêu thực có sức ám gợi: “Tôi thấy ngoài Trường Sa/Những ngôi sao chân thật/Những ngôi sao sắp hàng/ Những ngôi sao đi rầm rập” (Phát sáng). Anh vận dụng triệt để phương thức lạ hoá để xây dựng hàng loạt những hình ảnh so sánh siêu thực, những liên tưởng dựa trên những nghịch lý, bất ngờ, đánh mạnh vào óc tưởng tượng của người đọc: “Sóng ngọt như hoa trái lững lờ thè chiếc lưỡi” (Buông neo), “Sóng như chàng thi sĩ/Ngẩn ngơ chờ mùa sang” (Ru mùa), “Tiếng sóng vọng vào giấc mơ/tha thiết ngày xa nhà/vàng như hoa vạn thọ/ lướt thướt đôi mắt Song Tử Tây” (Tiếng sóng), vv…Hướng về thế giới vô thức, đề cao ngẫu hứng, ghi nhận những ấn tượng mơ hồ, mong manh lướt qua trong đầu, tác giả tạo ra nhiều liên tưởng thú vị: “Khi đoá hoa nở dưới nước/Giọt nước trên sóng lăn tăn/Gió con cá vượt/Trăng ngẩn ngơ một gã si tình” (Đoá hoa nở). Chi tiết, hình ảnh thực của biển đảo ghi nhận bằng giác quan đã được chuyển hoá thành những hình ảnh giấc mơ, ảo giác, tạo nên sự liên tưởng phong phú nơi người đọc: “Đêm qua/Tôi thấy những linh hồn trắng/Tựa vào nhau/Cong như chiến hào” (Những linh hồn trắng), “Ta lặn một hơi dài/Trôi tự do theo dòng hải lưu cùng bầy cá mặt trời/Sau nửa đêm/Ta và bầy cá bắt tay nhau/Hướng về Trường Sa thương nhớ” (Điền dã ngoài biển). Những hình ảnh, sự vật cách xa nhau được đặt cạnh nhau, gợi liên tưởng xa mờ, đa nghĩa: “Tôi câu mực/Từng con mặt trăng/Giấc mơ thánh thót” (Câu mực), “Dấu vết cánh buồm đâu đó/Giữa biển khơi/Như vết môi son tháng Giêng/Như bông hồng sinh nhật/Như tiếng gà khuya xa mờ lấp lánh/Hiển lộ trong chiếc khăn em thêu” (Cánh buồm), “Sóng mật ong cá rỉa/Cõng giấc mơ Sinh Tồn/Mang theo trái tim mẹ/Gặp gỡ nơi đảo xa(Giấc mơ Sinh Tồn). Nhà thơ tạo ra cách trình bày mới mẻ trong bài Chú thích: “Ta hớn hở/ Bước lên đảo chìm/Đi qua bãi cọc/Hiện lên chữ số/ 1/ 2/ 8/ 8”. Con số 1288 được cấu tạo thành 4 dòng thơ theo phương thức lạ hoá. Thì ra, những mũi đá nhọn dưới đảo chìm ở Trường Sa gợi hình ảnh bãi cọc Cao Quỳ trên sông Bạch Đằng đã làm tan tành đạo thuỷ quân Nguyên Mông hùng mạnh, năm 1288. Một sự so sánh ngầm thú vị làm nổi bật sức mạnh của biển đảo Việt Nam, của con người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền Tổ quốc. Tác giả đã đổi mới trong việc ngắt dòng thơ, không dùng dấu câu, ngắt giọng theo nhịp rung của cảm xúc, sự mời gọi của tâm tưởng.

Nhìn chung, Buông neo là một thể nghiệm khá thành công của Bùi Minh Vũ. Với một đề tài quen thuộc có tính thời sự nhưng nhà thơ đã có cách thể hiện mới mẻ và hấp dẫn. Nhà thơ đã ảo hoá những hình ảnh ghi nhận từ giác quan, tạo ra hình tượng thơ có độ nhoè về nghĩa, gợi được nhiều liên tưởng nơi người đọc. Tuy nhiên, tập thơ có những bài, những câu viết dễ dãi, hạn chế về nhịp điệu; hình tượng và cảm xúc còn nhạt nhoà, thiếu sức thuyết phục. Mặt khác, lối thể hiện siêu thực “rất kén”người đọc vì ít nhiều gây khó khăn và ức chế trong việc tiếp nhận, nhất là đối với người đọc đại chúng. Nên chăng, dùng siêu thực như một thủ pháp nghệ thuật biểu hiện cho phương thức thơ trữ tình hiện thực thì người đọc dễ đồng cảm hơn, hiệu quả tác động mạnh mẽ hơn./.

N.P.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm