TIN TỨC

Nàng xuân trong thơ Minh Đan

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-02 16:28:13
mail facebook google pos stwis
2075 lượt xem

HÀN QUỐC VŨ

Là một gương mặt thơ nữ có nhiều sáng tác ấn tượng về đề tài thế sự, Minh Đan còn xác lập cho mình một giọng thơ trữ tình cá tính, khó lẫn giữa vườn xuân đa sắc đa hương…


Nhà thơ Minh Đan


1.Nhiều thi ảnh độc đáo hiện lên trong thơ Minh Đan rất thật và đậm chất ái tình khi đối diện với tình yêu và cuộc sống.

Với "Thắp Mặt Trời Xuân", thơ Minh Đan lạ, đặc sắc và cái tựa bài cũng lạ. Nhịp đập mùa xuân chuyển mình từ “đường cong” rồi lại “đầm đìa” trong trạng thái “rêu ngủ”.  

“Đường cong cong đầm đìa rêu ngủ

Phố lạnh

Xé toạc ngày rủi may...”

Cứ ngỡ “phố lạnh” sẽ nhấn chìm mọi rung cảm của thời gian, không gian. Nhưng không, nàng kiêu hãnh “xé toạc rủi may” để thỏa mãn tình yêu chính mình và hưởng thụ sự giao thoa của đất trời; để rồi hiên ngang đi giữa tiết xuân, thềm hoa của nàng tự tin trổ lộc: 

“Hoa mở lối

Sương sương non ngủ quên giấc mơ

Xuân

Những lá cuộn vào nhau

Không thoả hiệp với mùa đông”

Sự mạnh mẽ khiến chúng ta nhận ra cái động cơ mà hoa phải “mở lối”, xuân đã dậy thì và xuân vào kết đôi khiêu vũ bằng hành động “cuộn vào nhau”. Ở đây, chúng ta thấy rằng sự khẳng định em là mùa xuân chứ chẳng phải là đông lạnh lùng tê tái, co ro như thuyền độc mộc tại một dòng sông băng.

Nhưng sang đoạn cuối, tác giả, sự trỗi dậy của một vì sao ái tình, bản thể, hãnh diện trưng ra “con gái – mỹ nữ” của nàng:  

“Đường đường cong 

Em - con gái

Thắp mặt trời

Không hư ảo

Không chông chênh”

Mạch xuân thì tiếp tục được Minh Đan phơi tỏ trong bài thơ "Không Thể Đặt Vòng" mô tả thiên đường - nơi quí đàn ông thực sự mê đắm. Và chính hai báu vật nam - nữ này sinh ra nhân loại, bảo tồn vũ trụ chúng ta.

“Mặt trời đóng lên đỉnh đầu những hạt nắng hạt mưa vô thường vô ngã

Toà nhà trọc tóc giáng xuống phố xinh những bóng chim khi tỏ khi mờ

Mùa xuân in dấu chấm đỏ lên ngực em thẫn thờ

Hành khất lời yêu cháy bỏng

 

Anh đến...

Tia chớp đầu hàng hạ giọng

Sương sớm chưa kịp ngước nhìn

Cây cỏ còn nguyên nét thư sinh

Những môi anh đào bẽn lẽn

Chiếc cúc áo len lén

Bờ đá say sưa con nước rần rần

Chảy đi những lời nguyền từng làm ai bật khóc một lần

Cho ngày gọi tên hạnh phúc

Em đàn bà từ anh – thường trực

Những khát khao không thể đặt vòng”

Từ và tứ như bức tranh thuỷ mặc mà hoạ sĩ đã vẽ nàng tiên ôm hoa đào với chiếc áo dài hồng tha thướt, như hai dòng sông bung lụa. Ô hay, lúc này “anh đến” thì sự kỳ vĩ của “tia chớp”, “sương sớm”, “cây cỏ”… tất cả bỗng yếu mềm, ngẩn ngơ, hạ mình, vì em thực sự rất đẹp, rất đàn bà thục nữ, em có quyền làm điều đó! Bởi thế, “chiếc cúc” của em và anh cũng dần bật ra đắm chìm trong suối tình ca vẫy gọi róc rách, nước là rượu chảy không thôi. Anh đến như muôn vật phải chịu khuất phục trước dáng hình em tuyệt mỹ để rồi tiếng đàn ái ân cứ dợn mênh mông như tứ hải trập trùng.

Và rồi men mùa xuân tiếp diễn trong lời rủ rê ngọt lịm:

“Về đi anh

Đánh thức que diêm đỏ lửa trong em

Đỏng đảnh nằm ngoài mép cửa

 

Về đi anh

Nụ xuân tràn nhựa

Én rợp trời Nam khâu múi nhớ 

 

Về đi anh

Mùi… ủ… chua… mời!”.

(Về Đi Anh)  

Mùa ái ân vẫy gọi. Em sẽ dịu dàng, sẵn sàng, đỏng đảnh, nhõng nhẽo như một con mèo ngoan quanh co ngoài mép cửa, và mùa xuân tràn nhựa từ đây. Anh về, anh về, anh về là chim én, là nụ xuân, là khâu múi nhớ, là men ủ chua của vị đàn bà mời gọi hiến dâng.
 

2. Nhưng sang giọng thơ cũng mùa xuân trong hy vọng sống còn của nhân loại với bài thơ "Thức Tỉnh", Minh Đan dường như nhận ra sự thật trần trụi của lòng người, tình đời khi thế giới trải qua cơn đại dịch Covid-19 gây ra bao đau thương, mất mát, chia lìa. Tác giả thức tỉnh bản thân, nhưng lại cảm thông với thế giới con người. Chị lo lắng, chiến đấu, giục giã lương tri để yêu thương tha nhân nhiều hơn.

Minh Đan viết:

“Thế giới không ngừng lo lắng về Cô vy

Loài người không ngừng chiến đấu vì Cô vy

Tôi không ngừng thức tỉnh chính mình”

Chị cũng nhận ra một chân lý:

“Trong sáng quá!

Không đuổi kịp lưu manh đang chế ngự

Đành ngụp lặn vào... thơ

An nhiên làm một kẻ khờ” 

 

Là một cách buông bỏ những điều xấu xa, bạc ác để tìm chính mình: 

“Ước mình là loài chim chóc

Thư thả chuyền cành, tắm nắng lượn vui

Tự do hát lời tỏ tình bên cánh hoa xinh

Không gợn nỗi niềm nhân thế

Không lo dịch giã, cách ly

Không buồn ai còn ai mất

Cứ sải cánh bay bay bay 

 

Ước mình là viên đá cuội

Thanh thản ngồi tĩnh lặng ngắm trời cao

Mở lòng vào cõi hư vô

Nghe thông reo, suối chảy dỗ yên ánh sáng

Thỏa một đời đá thức 

 

Lại ước thời gian ngừng trôi

Xuân không mang lộc non đếm tuổi

Nếp nhăn chẳng lấy cớ sinh sôi

Tóc chẳng buồn điểm thêm sợi bạc” 

Chị rất tuyệt vời khi là “chim”, cứ sải cánh, quên đau thương, dịch lệ, chết chóc. Ở chỗ khác, chị là “viên đá cuội” để thông cảm với kiếp người, thật sự thư thả, an nhàn, tĩnh lặng và thoả mãn cái kiếp làm “đá thức”, tức là làm một người thanh bạch. Nhưng cái chị không thể ước được dù có ước là “thời gian”, vì nó không bao giờ trở lại, phải nhớ rằng nó như là vó ngựa của hằng nghìn tỉ con ngựa chạy qua! 

Và điều chị chiêm nghiệm sâu sắc lay tỉnh sự thiện lương trong mỗi con người:

“Điều ước bao giờ hóa thật

Khi lòng người đầy túi tham?”  

Về nghệ thuật, thơ của Minh Đan dùng từ sắc bén, có bước chuyển động mạnh mẽ, thách thức và cởi mở. Thơ hay ở chỗ từ-tứ-tư. Và cái đẹp trong thơ Minh Đan như bức tranh mùa xuân nhiều màu sắc, cuốn hút.  

Mùa xuân sẽ ở với những ai có tấm lòng ấm áp, tình yêu sẽ quấn quýt bên ai có sức hút của sự yêu thương. Chính điều đó đã khiến cho những vần thơ Minh Đan quyến rũ và đầy nhân bản.  

 (Theo Tạp chí Sở hữu trí tuệ & Sáng tạo)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm