TIN TỨC

Sự hồi quang ký ức trong “Bài thơ cánh võng”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-04 07:40:54
mail facebook google pos stwis
1057 lượt xem

Nhà thơ ĐẶNG HUY GIANG

Khi bắt đầu chớm đến đầu con dốc phía bên kia cuộc đời, nhất là bước vào tuối “xưa nay hiếm”, con người ta thường có thói quen ngoảnh lại. Ở đây, ngoảnh lại để nhìn lại chặng hành trình đã qua. Ngoảnh lại để hồi tưởng những vui buồn của cuộc đời mình. Ngoảnh lại để nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ em, nhớ những người đồng đội. Ngoảnh lại cũng là để nhớ mình da diết. Thêm nữa, Ngoảnh lại cũng là dịp “xốc” lại mình, để sống sao cho phải với những tháng ngày đã qua.

Nguyễn Vũ Quỳnh với tác phẩm mới “Bài ca cánh võng” của ông, không phải là một trường hợp ngoại lệ. Chỉ có cái khác: Mức độ và phạm vi của sự ngoảnh lại của ông mang tính nhất quán, bao trùm và sự ngoảnh lại của ông như là sự hồi quang ký ức. Nói cách khác: Nguồn sáng của ký ức với những  nét riêng biệt của nó, trong nỗi ám ảnh khôn nguôi, đang trở lại với ông mãnh liệt và dào dạt hơn bao giờ hết. Đã thế, sự ngoảnh lại này lại được soi chiếu dưới con mắt của hiện tại, trải qua sự thử thách của thời gian, nên có giá trị thực chứng và thuyết phục rất cao.

 Đó là nỗi nhớ quê và nhớ mẹ đến “cồn cào cả khuya”, “nhớ xa xót, nhớ rưng rưng/ nhớ đến thế, nhớ chưa từng…bạn ơi” trong “cánh rừng thừa nắng thiếu mưa” mà nhớ “Quê nhà đang vụ lúa chiêm/ Chao ôi là nhớ ngả nghiêng cánh đồng” (“Trăng treo đầu võng”). Phải nói rằng nỗi nhớ thật là da diết.

Đó là nỗi nhớ mẹ gắn với cây lúa, với hạt thóc, với dảnh mạ, với tiếng trời, tiếng đất, tiếng mồ hôi, tiếng nước mắt của một đời người. Điều này được thể hiện qua “Mẹ và cây lúa ngày xưa”. Đây là một tứ thơ ấn tượng, mang tính khái quát cao, dành “kính tặng Mẹ Việt Nam một thời gian khổ”. Chỉ có ý thức sâu sắc về vai trò của cây lúa trong đời sống người Việt với nền “văn minh lúa nước” từ bao đời nay, tác giả mới có thể viết được những câu thơ nặng lòng như thế này:

Lúa là mẹ của thóc sinh ra gạo

Gạo quý hơn vàng nuôi nấng cuộc đời ta

  và:

Gạo nuôi người, lúa như đời bà ngoại

Mẹ sinh con, gạo nuôi dưỡng ước mơ

Tác giả thấu hiểu nỗi vất vả của người trồng lúa: “Thóc và lúa bắt đầu từ dảnh mạ/ Bão tố đời người gồng gánh bờ vai” nên càng thấm thía nỗi đau khi mùa vụ thất bát: “”Bao nhiêu đứa con, bao lời chan chứa/ Không ghi hết nỗi đau khi hạt thóc mất mùa”. Giờ đây, khi đã đủ ăn thì một bi kịch khác lại diễn ra - ấy là khi mẹ không còn nữa:

Thế là con đã mồ côi

Chỉ còn hạt gạo đầy nồi...ca dao

Quê ơi bên gốc đa cao

Vẫn còn nguyên vẹn gió lào ngày xưa

Hai câu kết như tôn cao tứ thơ lên một tầng nấc mới:

Hạt thóc gội nắng tắm mưa

Làm tôi nhớ mẹ cày bừa nên quê.

Đó là nỗi nhớ mẹ gắn với lời ru của mẹ đến nỗi dù “Con đã đi qua cả trăm núi ngàn khe” vẫn muốn “trở về nghe lời ru của mẹ”, vì chỉ nhờ có thế, tác giả mới “được trở về tuổi thơ” và coi đó là “hạnh ngộ” của đời mình trong “Tìm lại lời ru”. Đề tài mẹ gắn với lời ru như được bay lên trong “Bài thơ cánh võng”. Bài thơ được khai mở bởi bốn câu thơ đáng nhớ:

Mẹ mắc câu thơ lên hai đầu cánh võng

Lời hát ru ngấm thương nhớ vào con

Thành hành trang  cho con muôn thuở

Tiếng ru đêm trao vốn liếng làm người.

Và kết lại ở bốn câu như là dư ba chưa dứt và như một lời truyền lại cho thế hệ mai sau: 

 

Lời ru gom cả trời xanh

Mặt trời ngoan, ngủ ngon lành đêm đêm

Mai này con nhớ đừng quên

Bài thơ cành võng bên thềm...à ơi!  

Trong  tập thơ này, nỗi nhớ mẹ và nỗi xa vắng mẹ còn trở đi trở lại với Nguyễn Vũ Quỳnh nhiều lần. Nỗi đau mất mẹ khiến Nguyễn Vũ Quỳnh cay đắng nhận thấy rằng: “Về nhà vắng mẹ bơ vơ cả chiều” (“Về nhà”) và đau đớn nhận ra rằng: “Bây giờ con đã mồ côi/ Mẹ không còn, mất thật rồi ngày xưa”. Nói không quá thì mẹ và hình tượng mẹ là “hiện thực trung tâm” của “Bài ca cánh võng”, thể hiện cái tậm, cái tình sâu đậm ngỡ không thể sâu đậm thêm nữa của Nguyễn Vũ Quỳnh.

Chiến tranh đã lùi xa. Mọi phản ánh về chiến tranh cũng dần dà khác trước và có nhiều thay đổi. Nếu như trước kia (sau 1972), chỉ với “Vòng trắng” (“Có mất mát nào lớn bằng cái chết/ Khăn tang, vòng tròn như một số không”) của Phạm Tiến Duật và “Sẹo đất” (“Tưởng trên da thịt mình mới sẹo/ Ai ngờ đất cũng sẹo như người”) của Ngô Văn Phú, mới có cái nhìn manh nha về thảm khốc và hậu quả của chiến tranh đem lại mà đã bị cấm đoán, thì từ thập kỳ 90 của thế kỷ XX bằng “Khắc vào Trường Sơn”, Nguyễn Vũ Quỳnh khắc họa một bà mẹ nhìn chiến tranh, cụ thể là nhìn đứa con và kẻ thù con mình đã nằm lại chiến trường bằng một cái tâm không phân biệt:

Mẹ đi vào giấc thiên thu

Ru mày! Thương cả kẻ thù năm nao

Đọc những câu thơ này, tôi không thể không liên hệ đến một lời thoại trong một vở kịch của B. Brecht: “Khi cuộc chiến đi qua/ Chỉ có các bà mẹ là thất bại”. Từ góc nhìn khách quan, dù ở phía bên này, hay phía bên kia, mất mát nào cũng là mất mát (“thất bại”) của những người mẹ. Đây là một bài thơ lạ, mang cái nhìn nhân bản về chiến tranh rất khác biệt của Nguyễn Vũ Quỳnh. Nó mới ở cách nói và ở cả cách nghĩ của một người đã đi qua trận mạc.

Đó là nỗi nhớ em, nỗi nhớ tình yêu xưa và ngày xưa, cũng dai dẳng không kém. Nó cứ dập dờn hiện lên bởi chăng đó là những kỷ niệm đẹp trong những cuộc tình ông đã trãi qua:

Đây là ví dụ thứ nhất trong “Cất đêm”: “Giấu chiều vào lòng núi/ Dịu mát trời đam mê/ Em cất đêm vào ngực/ Gọi tình yêu hiện về”. Đây là ví dụ thứ hai trong “Bến chiều”: “Không biết em có bồn chồn/ Riêng anh vẫn giữ một hồn cốt quê”. Đây là ví dụ thứ ba trong “Em là thời gian của anh”: “Lận vào không gian xanh mãi ước mơ/ Em đổi màu thời gian trong anh”. Đây là ví dụ thứ tư trong “Hồi hộp”: “Người ngày ấy đã mấy mươi năm/ Giờ gặp lại qua bao mùa con gái/ Tình vẫn vậy dù mấy lần hoa trái/ Con tim xưa hồi hộp đến bây giờ”.

Trong nỗi nhớ đồng đội, Nguyễn Vũ Quỳnh nhớ đến những nữ thanh niên xung phong mà Trường Sơn là “Nơi cất giữ một thời con gái” của họ. Ông cũng không quên tri ân họ bằng những câu thơ chân thành mà nhân văn, chất chứa những cảm xúc sâu lắng và ngưỡng mộ:

Các chị làm nên dáng vóc, hình hài

Thì vị một thời mở đường đi cứu nước

Cống hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc

Hương thơm đầu đời dâng hiến Trường Sơn.

Đó là vẻ đẹp trong sáng của tình yêu lứa đôi một thuở. Đó là sự gặp nhau đầu đời, một đi không trở lại. Dẫu chỉ là “những khoảnh khắc toàn hoa/ chẳng bao giờ kết quả”, nhưng em vẫn có một vị trí quan trọng trong anh, có thể làm “thay đổi màu thời gian trong anh”. Vẻ đẹp của tình yêu vĩnh cửu ấy như còn lưu giữ dài lâu đến mức: “Con tim xưa hồi hộp đến bây giờ”.

Thơ trong “Bài ca cánh võng” có những câu thật hay. Có nhiều câu đáng được đánh dấu khuyên vào đó: “Ta thắp mình lên tìm hình bóng quê nhà”. (Mẹ để câu ca dao nơi phía dây gầu) “Hoa cúc không của riêng ai cả/ Mà màu vàng vẫn như ám ảnh ta” (Khúc giao mùa). ”Xô lệch hoàng hôn trôi xa bến đợi/ Bây giờ về vắng hết cả ngày xưa” (Vắng hết cả ngày xưa). Thơ viết về những dòng sông cũng có nhiều câu đáng nhớ: “Tôi đi qua nhiều lắm những dòng sông/ Nhưng chưa sông nào nhớ hơn sông Mã/ Tôi mang sông đi khắp phương trời xa lạ/ Mới hiểu chẳng nơi đâu thánh thiện tự quê mình” (Sông Mã quê ơi!) “Hương nước sông Lam kỳ diệu lắm/ Giặt sáng tắm chiều, mai vẫn còn thơm” (Tự tình với sông Lam). Cái chất tình tứ sâu lắng trong từng câu thơ cứ ngân nga mãi trong thâm tâm người đọc nhiều khi trở nên day dứt khó quên.

Chắc hẳn phải là người Xứ Thanh từ trong cội rễ, Nguyễn Vũ Quỳnh, ông mới có sự sẻ chia lớn lao với Hồ Quý Ly (1336 - 1407) - vị hoàng đế đầu tiên  của nhà nước Đại Ngu trong lịch sử Việt Nam, ông vua có nhiều cải cách trong bài“Qua thành nhà Hồ”:

Đất trời một cõi tiên - rồng

Bây giờ ruộng lúa nơi ông xây thành

Bảy năm giấc mộng tan tành

Nỗi đau Đại Việt đâu dành riêng ai?

Nỗi niềm nhà Hồ, còn theo Nguyễn Vũ Quỳnh đến tận hôm nay:

Nay còn cổng đá xây tường

Thành nhà Hồ! Một đoạn trường xót xa!

Tác phẩm “Bài thơ cánh võng” là sự hồi quang ký ức mang theo kỷ niệm đẹp về quá khứ trong một mạch thơ ngẫm cảm nối dài. Hồi quang kí ức đẹp đã lan tỏa sự minh triết ngôn ngữ từng vần thơ để lại cho hôm nay và mai sau trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Đó là phần cốt lõi và nền tảng của thơ ông. Đó cũng là những vần thơ giàu chất chiêm nghiệm và máu thịt của riêng ông.

Xin trân trọng giới thiệu tác phẩmmới “Bài thơ cánh võng” của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh cùng bạn đoc.

 Phố Khuất Duy Tiến đêm 13 tháng 4 năm 2025

Đ.H.G

   

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm