TIN TỨC

Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-16 16:24:15
mail facebook google pos stwis
1672 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Cuộc thi Thơ Hay do tạp chí Văn Nghệ TP.HCM đăng cai, vừa tổ chức buổi lễ trao giải vào sáng 16/5. Cuộc thi Thơ Hay nhận tác phẩm ứng thí từ ngày 1/5/2023 đến ngày 29/2/2024. Tổng cộng, có 577 tác giả với 2750 bài dự thi.

Kết quả công bố, cho thấy hầu hết tác giả đoạt giải đều thuộc thế hệ 8X và 9X. Đây là tín hiệu đáng mừng, chứng minh có thêm một đội ngũ cầm bút mới đang trưởng thành và bắt đầu tạo nên một dòng chảy thi ca khác biệt cho đời sống văn học Việt Nam.

Giải nhất thuộc về tác giả Nhiên Đăng (Bình Định) sinh năm 1992. Giải nhì thuộc về tác giả Trần Đức Tín (Cà Mau) sinh năm 1989 và tác giả Lệ Hằng (Đà Nẵng) sinh năm 1988. Giải ba thuộc về tác giả Nguyễn Đức Hưng (Kon Tum) sinh năm 1987 và tác giả Hoàng Thị Hiền (Cao Bằng) sinh năm 1990.


KTS Nguyễn Trường Lưu và nhà báo Trần Trọng Dũng trao giải nhất cho tác giả Nhiên Đăng.

Ngoài ra, trong 5 tác giả được trao giải khuyến khích có tác giả Bùi Việt Phương (Hòa Bình) sinh năm 1980, tác giả Lê Nhi (Hải Phòng) sinh năm 1988 và tác giả Vĩ Hạ (Bình Thuận) sinh năm 2004.


Tác giả Lệ Hằng, giải Nhì

Không có chủ đề cụ thể, nên cuộc thi Thơ Hay mở rộng biên độ tung tẩy cho các tác giả. Chính chủ trương phóng khoáng ấy, khiến các tác giả trẻ chiếm ưu thế so với các tác giả đứng tuổi, nhờ sự tìm tòi về bút pháp và sự mới mẻ về suy tư. Thơ các tác giả trẻ không bó buộc trong khuôn thước dài ngắn cố định của mỗi khổ thơ và mỗi dòng thơ, đã giúp ý tưởng của họ xóa bỏ những ngẫm ngợi nhịp nhàng theo thói quen và định kiến, để thăng hoa nhiều thi ảnh độc đáo.

Mặt khác, thơ các tác giả trẻ cũng biết khai thác những vui buồn riêng tư để bản sắc cá nhân trở nên lấp lánh, như ân tình của tác giả trẻ Trần Đức Tín “Những linh cảm trắng đầy tường bệnh viện/ từ tiếng khóc đầu tiên đến cơn đau cuối cùng/ mắt môi nào ai giấu dưới gốc đước/ chiều nay soi lên da thịt thân tôi gầy/ khi cơn đau đến vội giữa khuya/ anh chỉ kịp trở người/ nghe bóng mình buôn buốt/ may còn em/ hiền khô như đất/ lăn qua cơn đau này anh biết mình còn quê hương” hoặc bâng khuâng của tác giả trẻ Lệ Hằng “Không biến mất nhưng không ai tì thấy/ trong im lặng dưới tán cây mùa hè/ ngời lên một dáng ngồi biêng biếc/ đừng nói khi bầu trời diệp lục/ mật nắng tràn chân tóc/ tịnh vắng tràn chân mây/ cầu vồng trong mắt lá/ ánh sáng nở ra loài hoa tuế nguyệt/ thời gian hương lan xa/ trong văn bản mùa hè không còn gương mặt nữa/ chỉ một niềm cây

Nét đặc trưng của mỗi vùng miền dự phần vào sáng tác thi ca, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú của xã hội Việt Nam thời hội nhập. Công chúng dễ dàng đồng cảm với vùng cao Tây Bắc day dứt trong thơ Hoàng Thị Hiền, một tác giả trẻ của dân tộc Tày: “Người đàn ông/ ruộng bậc thang gương mặt/ sương muối đầy mớ tóc/ bát rượu cay mặc khách gật gù/ giữa đường tôi gặp/ tiếng khèn môi lơ lửng quanh đâu/ bỏng má người đàn bà ôm vết bầm ngây dại/ ma nhà người cũng khóc/ ngày cả bản mừng dâu”.

Còn cố hương xứ Nghệ thương khó cũng được phác thảo trong thơ tác giả trẻ Nguyễn Đức Hưng: “Có một ngày ta mắc kẹt trong giấc mơ buổi trưa/ ở đó có màu vàng lúa chín/ có mùi rấm trấu tuổi thơ bịn rịn/ vài cọng dây khoai vùi dưới tro hồng/ ta gặp chính ta chới với ở bờ sông/ em kéo ta lên lưng trâu rồi bật cười khanh khách/ ta gặp dáng ông ngồi trên chiếc chõng tre đầu hè đọc sách/ bà ngồi bên bỏm bẻm nhai trầu/ gặp dáng mẹ gầy mặc chiếc áo màu nâu/ đầu đội thúng chạy liêu xiêu trên triền đê mùa giáp hạt/ bố nhặt nhạnh tép tôm vật vờ trên bờ cát/ trời chợt nổi gió giông vai quẩy lưới trống đi về”.

Đáng mừng hơn, từ cuộc thi Thơ Hay, những người yêu thi ca nhận diện được nền thơ Việt Nam ở thập niên thứ ba của thế kỷ 21 đã thay đổi rõ rệt về quan niệm thẩm mỹ. Hơi thở cuộc sống được dịch chuyển mạnh mẽ trong mỗi bài thơ, buộc độc giả phải tiếp nhận bằng cảm quan năng động để có thể lĩnh hội đầy đủ chất thơ giữa đời thường.

Bất cứ một cuộc thi nào, thì mọi ánh mắt ngưỡng mộ đều đổ dồn vào người được giải cao nhất. Vậy thì, “trạng nguyên” của cuộc thi Thơ Hay gửi gắm điều gì trong chùm thơ của mình? Với quan sát tinh tế và hình ảnh sinh động, tác giả trẻ Nhiên Đăng thể hiện một phong vị làng quê nhiều màu sắc giữa nhịp sống lao động và đời sống tâm linh. Làng quê trong thơ Nhiên Đăng không còn những vần điệu đong đưa và trễ nãi nữa. Diện mạo làng quê thời hội nhập trở nên hối hả hơn và trắc ẩn hơn: “Hoa nhài thơm trong nắng/ Bầy chuồn chuồn quần thảo trên đám khổ qua/ Nhớ một người bạn đã mất, chú chó vện sống mười hai năm/ Ngả lưng vào ghế, thấy đời nhẹ tênh/ Như sông trôi, mây trôi và gió thổi/ Mười năm một chặng đường đầy những suy tư/ Vui và buồn/ Ngả lưng vào ghế, thấy mình ở đâu đó trên con đường có ánh trăng/ Giữa những đám ruộng trồng dưa hấu đỏ/ Nghe được thinh không chứa đầy tiếng côn trùng/ Tiếng cành cây mục rơi hoang”.

Cái rát bỏng của nắng gió miền Trung đi vào thơ Nhiên Đăng một cách tự nhiên, như những thước phim quay chậm từng khoảnh khắc nhớ thương. Tác giả trẻ Nhiên Đăng soi rọi từ bản thân “Theo dấu chân trâu vung roi trên cánh đồng khô hạn/ Gió thổi qua những ngọn tháp, những ô ruộng, những ngôi nhà mái lợp/ Tro tàn nơi góc vườn là ngôn ngữ đất/ Và bếp lửa là bài thơ thắp sáng ước mơ tôi”, để có cách riêng bái vọng tổ tiên: “Những linh hồn sống dậy trên cánh đồng lúa chín/ Họ gặt lúa, tát cá, ngồi che nắng và kể chuyện làng/ Những người áo vàng đi trên đường cái tháng sáu/ Cát và gió tạt qua chân họ/ Giữa những gam màu trắng như mây trôi/ Họ bay lên trời/ Để lại những ô ruộng vàng như áo họ mặc”.

Sự có mặt của tác giả trẻ Nhiên Đăng và những cây bút 8X, 9X không chỉ tự tin cất lên tiếng nói một thế hệ, mà còn hào hứng tiếp nối tình yêu thi ca vẫn được nuôi dưỡng bền bỉ trong tâm hồn người Việt Nam khao khát ấm no và hạnh phúc.


Một vài hình ảnh trao giải - Ảnh: NH.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm