TIN TỨC

Những dấu chân thơ và cuộc lãng du cảm xúc nhớ thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-06 06:51:24
mail facebook google pos stwis
1550 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

'Những dấu chân thơ' của tác giả Trần Kim Dung dắt người đọc đến nhiều địa danh, để mỗi ánh mắt chiêm ngưỡng bỗng nảy lên một nghĩ suy ân cần với cuộc đời.


Nhà thơ Trần Kim Dung

“Những dấu chân thơ” hay những bước chân lãng du thi ca qua nhiều vùng đất, tác giả Trần Kim Dung đã đi bằng những cung bậc cảm xúc bềnh bồng với nhịp điệu chậm rãi. Tập thơ “Những dấu chân thơ” do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa ấn hành, vẽ nên một bức tranh dài rộng, sơn thủy hữu tình, từ những miền đất thiêng liêng gắn liền với lịch sử dân tộc đến những vùng đất xa xôi bên ngoài Tổ quốc.

Nơi nào tác giả Trần Kim Dung đã ghé đến đều lưu lại trong chị những niềm riêng sâu lắng. Chị không hời hợt với những địa danh theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa, mà lặng lẽ đứng vào không gian ấy để tự nhắc nhở về dĩ vãng chung và tự chưng cất thành kỷ niệm riêng.

Đọc xong mỗi bài thơ trong tập “Những dấu chân thơ”, lòng tôi lại thấy bâng khuâng giữa cảm giác mơ hồ và cụ thể, chơi vơi với chất sử thi, thúc giục ta thao thức với tiền nhân. Những bài thơ chị viết về những vùng đất “địa linh nhân kiệt”, những di tích lịch sử không cần cầu kỳ, hoa mỹ, mà đưa độc giả vào miên man suy tư: “Tám thế kỷ rồi xa cách sông/ Giấu mình trong bùn đất mênh mông/ Ngày đêm cọc nhớ miền ký ức/ Mơ sóng Đằng Giang nước đỏ hồng” và “Lũ giặc hung hăng đến nơi này/ Gặp dàn cọc nhọn đứng bủa vây/ Xô nhau tháo chạy thuyền vỡ vụn/ Quân tướng tan tành theo khói mây” (Bãi cọc Cao Quỳ) .

Nhẹ nhàng theo “Những dấu chân thơ”, tác giả Trần Kim Dung trò chuyện với xa xôi “Tôi đến Tường Long khi Tháp vừa tỉnh dậy/ Bóc tờ lịch vạn niên, mười thế kỷ qua rồi/ Nghe tháp kể: Vua Lý vừa qua đây ngự giá/ Bóng rồng vàng còn lấp lánh ngoài khơi" (Tháp Tường Long) và sẻ chia cùng hiện tại “Em mang đôi cánh Hải Âu/ Bay qua Sông Cấm mỡ màu phù sa/ Ngắm tàu rộn rã vào ra/ Bên sông thấp thoáng mấy tòa chạm mây/ Đưa người đi khắp đó đây / Người sang Cầu Đất người bay xứ Hàn/ Người về Lưu Kiếm Kênh Giang/ Người mua cau cưới đến làng Cao Nhân” (Lời của cây cầu).

Trong “Những dấu chân thơ” còn có những thanh âm vận động, tiếng chim muông cây lá, tiếng bóc tách mầm xanh, tiếng lửa reo hội làng, tiếng cồng chiêng đại ngàn, tiếng đàn ngân suối vắng. Đó là khoảnh khắc “Tháng ba về với non ngàn/ Kơ Nia đứng đón mơ màng tóc mây/ Gặp đàn ong mật đang say/ Đàn voi cõng khách chở đầy gió sương/ Nghe mùi nếp mới trên nương/ Tơ Rưng ai dạo suối nguồn xanh trong/ Cồng chiêng nghiêng ngả nhà rông/ Rượu cần ai vít lửa hồng thâu đêm”. Đó là khoảnh khắc “Hạt tiêu đu nắng trèo nương/ Bám mây để vượt dặm trường đắng cay”. Một vẻ đẹp Tây Nguyên mơ màng, đầy quyến rũ và cũng lắm suy tư.


Tập thơ "Những dấu chân thơ" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ấn hành.

Cầm tập thơ “Những dấu chân thơ”, cứ ngỡ tác giả Trần Kim Dung đang làm một hướng dẫn viên du lịch thực thụ. Thế nhưng, chị không chủ đích nói cảnh sắc trước mặt mà chị thầm thì hồn vía mỗi kỳ quan. Ví dụ, cách chị thấm thía dư vị đấu trường La Mã: “Nghe cuộc mua vui đã đến canh tàn/ Hoàng đế chủ nô tràn ra các cửa/ Để lại đấu trường chất chồng máu ứa/ Đêm rùng mình lạnh toát cả thành Rôm”.

Là một nhà giáo đã nghỉ hưu, tác giả Trần Kim Dung say mê những chuyến đi và bồi hồi kể lại những chuyến đi theo cách bộc bạch của một tâm hồn ấm áp yêu thương. Đôi khi là sự bái vọng “Đến Bến Vân Đồn tìm đồn mây trên núi/ Mây đã tan tìm mãi chẳng thấy đồn/ Chỉ tìm được một câu thơ cổ/ Lộ thập vạn đồn sơn phục sơ". Đôi khi là sự trầm trồ “Lúa Mường Lò ngực mẩy tròn như cô gái Thái/ Óng ả lung linh giữa đồi núi chập chùng”. Và đôi khi là sự đồng cảm “Gặp hạc cõng gió vào rừng/ Gặp cò khiêng nắng qua sông về làng”.

Nguồn: https://nongnghiep.vn/nhung-dau-chan-tho

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm