TIN TỨC

Người phụ nữ giàu năng lượng yêu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-02 06:56:19
mail facebook google pos stwis
1792 lượt xem

TRẦM HƯƠNG

Viết về Đào Phong Lan hóa ra thật không dễ, bởi tôi dẫu lớn hơn em hơn một thế hệ mà có cảm giác em già dặn hơn mình. Những năm 1990, em đã có những thành tựu nhất định và ghi dấu trên văn đàn bằng những giài thưởng thơ ca. Em sớm đến với văn chương và giành được những giải thưởng văn học từ lúc còn rất trẻ, mới ngoài 20 tuổi. Điều đó cũng dễ hiểu vì tố chất được phát triển trong môi trường gia đình thấm đẫm âm nhạc và thơ ca.


Nhà văn Trầm Hương tại buổi ra mắt tập thơ "Em không thể nói lời từ biệt"

Rồi Đào Phong Lan dấn thân vào cuộc sống, kiến tạo gia đình và sự nghiệp, trong đó sáng tác văn học là một phần đời. Trong vai người mẹ, người vợ, một doanh nhân; phần cho "người tình" thơ ca vẫn thủy chung, lúc dịu dàng chìm lắng, lúc sôi nổi. Gần đây em trở lại với nhiều truyện ngắn. Và cuộc thi truyện ngắn hay do Tạp chí văn nghệ TP.HCM đã trao giải thưởng cho "Bảy ngả yêu thương" của Phong Lan. Tôi có cảm giác em trở lại với văn chương với tình yêu nồng nàn hơn xưa bởi sự khích lệ của độc giả, bè bạn...
 


Nhà thơ Đào Phong Lan và tập thơ "Em không thể nói lời từ biệt", NXB Hội Nhà văn, 2023


Lần nay, cầm trên tay tập thơ "Em không thể nói lời từ biệt" của Đào Phong Lan, tôi cảm nhận năng lượng sáng tạo của người đàn bà đẹp truyền dẫn đến tôi. Trang sách mở ra những câu thơ nống nàn, đau và sâu thẳm. Tôi thích chất "ớt cay" của em:

"Em phân thân giữa những gì được mất

Chẳng hay hạnh phúc có còn

Sợ anh đứng trên triền non cao ngất

 Vẫn mơ về một bóng thùy dương

 

Anh thân yêu!

Cơn mưa mọc hoang trên đất

 Nảy lên bong bóng bảy màu

 Những đám mây chân trời rơi nước mắt

Anh ở đâu??? (Đông - Viết giữa cơn mưa)

 

Cây cố quên mùa khô

 Bằng chồi hoa tím ngát

Người tìm cách quên ta

 Bằng người con gái khác (Hạ, mưa tháng năm)

 

Em chỉ có một bờ tóc ngắn

 Không đủ dài để buộc lời anh

Những ngọn tóc buồn hơn rêu cũ

 Và hắt hiu gấp mấy lá cành " (Đông - Cho ngày hôm qua)

 

Và cũng trong "Đông" buốt lạnh, tôi chầm chậm ngấm vị đắng xót của Lan:

"Anh đã có bao nhiêu tình yêu thứ nhất

 Sao không cho em làm kẻ cuối cùng?

Cứ để em chạy chân trần trên đất

 Mãi vẫn chẳng thể dừng?

 

Ngày hôm qua xa lắm,

Ngày hôm nay anh nhắc làm gì?

Em chỉ có đôi bàn chân lấm

 Đôi bàn tay chưa biết ôm ghì

Những ngón tay xanh mềm trong nắng

Che mặt khóc vụng về

Những ngón tay nằm hoang vắng

Run run chiều như cỏ ven đê..." (Đông - Cho ngày hôm qua)

 

Tôi đồng cảm, ngấm vào lòng vị mặn những giọt nước mắt của Lan. Lan khóc cho mình:

"Buổi chiều 30 tuổi

 Ngồi khóc trước hiên nhà

Ngoài sân con bướm rụng

 Rơi đầy trời lá đa (Hạ - không đề)

 

"Anh lấp trong em một đáy vực sâu

 Lại chất lên trùng trùng đá núi

Nỗi buồn dâng thành sông

 Nước mắt tràn thành suối

 Mà vì sao em vẫn lại yêu anh?" (Thu - vì anh)

 

Lan khóc cho nhân gian:

"Bắt gặp một dòng nước mắt

 Xưa bỏ trốn lên đồi

Thấy không đâu trên trái đất

Hoang vu

Như

Chỗ ta ngồi" (Hạ- chiều)

Nhưng đau và sâu hơn khi Lan khóc không thành tiếng, là những giọt nước mắt giấu vào trong:

"Lời đá cuột rơi trong lòng suối cạn

Vang lên trong vòm lá một thanh âm

Tiếng đá vỡ

Trong veo

Đau đớn

Lời yêu chỉ nói một lần..." (Xuân - Lời đá cuội)

Cay nồng, đắng, mặn nhưng người đàn bà mang tên Đào Phong Lan, thơ Lan quá đỗi quyến rũ, ngọt ngào, :

"Em nằm yên trong tay anh, trong hơi thở...

Trong nắng trời,

Gió biển,

Cát bờ xa,

Những con ong rừng lấy mật về qua

Ngọt như môi anh hôn em mỗi sáng..." (Hạ - Viết cho anh những ngày xa)

 

Một người đàn bà giàu năng lượng như Lan khi yêu bung hết sức thanh xuân, là muốn đi đến tận cùng:

"Hãy để em yêu anh không do dự

Và hãy yêu em như giây phút cuối cùng

Như ngày mai sẽ xa nhau vĩnh viễn, lối đi chung

Của hai đứa đã có người chắn mất...

Như đã đến giờ tận thế trên trái đất

Như dòng sông sẽ cạn muôn đời

Hãy siết em vào lòng

Hãy hôn mãi không thôi

Hãy yêu em không một lần ngưng nghỉ..." (Hạ - Viết cho anh những ngày xa)

 

Yêu đắm say đến vậy nhưng sao Đào Phong Lan quá biện chứng và tỉnh táo. Người đàn bà giàu năng lượng nên cũng quá đỗi thông minh, chợt nhận ra bản chất cuộc đời ẩn trong những sắc màu, hình tướng. Sự tỉnh thức khiến Lan đau khổ, khắc khoải và khao khát. Sau những phơi trải lòng mình, những hoài nghi, dằn vặt; chốt hạ những lời này, chắc hẳn là Lan rất đau đớn khi đối diện với chính mình:

"Ngày mai khi chúng mình gặp lại

Có thể là em đã khác hôm nay..." (Hạ - Viết cho anh những ngày xa)

 

Làm sao không khác được, khi người đàn bà nhạy cảm, thông minh như Lan thấu triệt những phép tính:

"... Bóng em khuất sau cánh cửa

Khép một nôi buồn nhân đôi

 

Những phép tính không bao giờ có thực

Đã trừ dần đi tôi" (Xuân - Những phép tính)

 

Những phép tính không bao giờ có thực nhưng nỗi đau của Lan là có thật:

"Còn lại một mình em kiếm tìm, đuổi bắt

Làm ra vẻ đồng vui,

Em la hét cười đùa.

Khi vì sao cuối cùng vừa tắt

Em ngồi trơ trên đất

Chợt nhận ra

Chỉ một mình

Trò chơi ấy

Vẫn thua" (Xuân- Trò chơi)

 

Tự nhủ xem như một trò chơi mà Lan vẫn không thôi đau, thôi khắc khoải về nó:

"Tôi làm sao níu lại cánh diều 

Khi nó đã bứt dây

Theo mây chiều bay mất?

Những tia nắng của một ngày ắp tắt

Cũng vội vàng về hướng xa tôi" (Hạ - Cho Nguyên)

 

Đọc thơ Lan rồi thì tôi hiểu vì sao cô gái mới ngoài hai mươi tuổi đã đưa ra một giả thiết khác, khi đặt mình vào Mỵ Nương:

"Anh đã chậm

Mà em thì quá vội

Thủy tinh ơi, xe đã thắng ngựa rồi

Nước mắt em xin hóa thành con nước

Hòa vào sông anh lấp lánh mặt trời..." (Thu - Lời Mỵ Nương)

 

Cay, đắng, mặn, ngọt ngào nếm đủ, Lan thanh lọc mình, quay vào bên trong, hướng đến sự nguyên sơ, tinh khiết, vượt qua bản ngã mình để bao dung:

"Nếu tình yêu có bảy sắc màu

Em xin nhận về mình hai màu xanh - trắng

Để nở hoa lối anh về phẳng lặng

Nhuộm sắc trời xanh mát buổi sau mưa..."  (Thu - Vì anh)

 

Cầm trong tay tập thơ mỏng nhưng sao tay tôi thấy trĩu nặng khi chạm vào tài hoa thơ của người phụ nữ giàu năng lượng yêu. Chỉ việc tự thể hiện mình trong 15 bài thơ gởi tặng độc giả, Đào Phong Lan phải mất nhiều năng lượng, công sức. Nếu chỉ riêng đọc từng câu thơ lẻ, bất chợt như:

"Lũ kiến đen vội vàng về phía sáng/ Như sợ mình không đến kịp ban mai"

"Còn em xin được làm chiếc cúc/ Nép khiêm nhường trên ngực áo anh"

'Thót nghe lá gãy trên cành/ Chỉ mong ngày tháng không đành lập đông"'

"Kỷ niệm mềm như lụa / Choàng lên thời gian qua"...

... thì ta cũng nhận được năng lượng thơ ca của Lan truyền dẫn vào từ mắt vào tim rồi...

 

Tôi đặc biệt thích những bài thơ của Lan viết về Tây Nguyên, phố núi vừa hồn cốt vừa khoáng đạt. Bàng bạc trong thơ Lan là nắng, là những hạt mưa, là lá rơi, rêu cỏ, bời bời những cơn gió, bời bời tiếng lòng... Thấm văn hóa Tây Nguyên vào hồn, nơi Lan đã sống một tuổi thơ đầy dấu ấn về đất và người nên mới có thể nắm bắt đặc thù âm thanh tiếng đàn trong một nốt nhạc thơ thần kỳ đến vậy:

"T'rưng

Em địu mặt trời trên lưng" (Hạ - T'rưng)

Bài thơ đã được Bùi Khánh Nguyên, người cùng nhận giải thưởng cuộc thi truyện ngắn hay của Tạp chí Văn nghệ TP.HCM phổ nhạc thành bài hát T'rưng được nhiều người yêu thích Sự đồng cảm của hai người bạn viết cùng lứa cũng dễ hiểu...

 

Tập thơ Lan chứa một dung lượng không nhỏ thơ lục bát. Tôi rất nể phục những người làm được thơ lục bát hay bởi đó là một thách thức. Nhiều người tự biện (trong số đó có tôi) rằng tư chất con người mình không thích ràng buộc, khát khao bứt phá không phù hợp với thể thơ này. Nhưng Đào Phong Lan vẫn rất phóng khoáng, bứt phá, trẻ trung, mới mẻ đó thôi sao nhuần nhuyễn lục bát đến thế. Lan không đi vào lối mòn vần vè, khuôn mẫu mà có những biến tấu, cách ngắt câu, ngắt nhịp rất táo bạo, biến ảo khiến lục bát trong thơ Đào Phong Lan mang một dáng nét rất riêng. Hãy xem cách Lan "chặt" một câu lục bát để cảm xúc găm vào lòng người đọc, không trôi theo vần vèo:

"Con thuyền xưa đã bỏ hoang

Bao nhiêu con nước

Vội

Vàng

Đổ

Đi" (Đông- Đổ vỡ)

Khép lại tập thơ, trong tôi tràn ngập cảm giác biết ơn. Cảm ơn tạo hóa không chỉ sinh ra người đàn bà đẹp mà còn giàu năng lượng để yêu thương, khao khát và sáng tạo. Một người phụ nữ giàu trải nghiệm như Lan chắc hẳn nhận ra đâu là giới hạn của chính mình. Những nhà phê bình sẽ làm công việc đặc thù của họ. Còn tôi, một phụ nữ cầm bút chỉ mong Lan cứ hồn nhiên yêu, hồn nhiên sống, kích hoạt mọi tiềm lực mà em có được để kiến tạo, sáng tạo, yêu hương và dâng hiến.

30.10.2023
T.H.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm